13- MARIA MẸ THIÊN CHÚA

06 Tháng Hai 201612:30 CH(Xem: 1528)
13- MARIA MẸ THIÊN CHÚA

                                                             
                                                    13- MARIA, MẸ THIÊN CHÚA

              Thiên Chúa là Người Cha vô cùng tốt lành nhân hậu, Vương Quốc của Người càng vinh quang thái hòa, Người càng muốn có nhiều con cái để chung hưởng hạnh phúc với Người. Nhưng Thiên Chúa thống trị Thiên Đàng và cả hỏa ngục, nên vì phép công thẳng, Người không thể sinh chúng ta là thiên thần mà phải tạo dựng con người. Và trước khi tạo dựng con người thì Người đã tạo dựng những định luật rất công thẳng , để con người được tự quyền lựa chọn giữa thiện ác tốt xấu. Ai làm lành lánh dữ là lập được công phúc thì tùy nhiều ít mà được thưởng lên hàng thần thánh, còn kẻ tham lam gian ác thì rơi vào thành phần ma quỷ.
          Nhưng con người tội lỗi chồng chất từ đời này đến đời khác, đến nỗi không ai có thể tự lập công mà vào được Nước Chúa, cho nên chỉ có Đấng ở ngôi vị Thiên Chúa, và đúng lý đúng luật: Đấng ấy phải LÀM NGƯỜI vì những định luật của Chúa chỉ thực hành với con người, Đấng ấy mới có thể lập công trạng lớn lao đủ để cứu chuộc cả nhân loại.
          Muốn xuống thế làm người nhưng Thiên Chúa tuyệt đỉnh thánh thiện cao trọng, nên chỉ một người nữ cực trinh cực sạch không hề vương nhiễm tội lỗi và vẹn toàn mọi nhân đức mới xứng đáng mang thai và sinh hạ Đấng ở Ngôi Vị Thiên Chúa. Lời tiên tri: "Này đây một trinh nữ sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-el, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta." Lời tiên tri đó không chỉ là một lời hứa, cũng không chỉ là một lời thông báo, mà lời tiên tri đó là một ĐIỀU KIỆN nằm trong Định Luật "Có mới được cho": Là nhân loại phải CÓ MỘT TRINH NỮ, thì Thiên Chúa mới có thể cho Con Chúa xuống thế làm người. Mà Chúa Giê-su không thể xuống thế làm người thì dù nhân loại có hoàn toàn thuộc về ma quỷ , Thiên Chúa cũng đành bó tay.
          Cho nên chưa kể những ơn lộc tuôn đổ tràn đầy thế gian, nhân loại đã phải đời đời ghi nhớ công ơn và tôn kính ngợi khen Đức Nữ Ma-ri-a. Vì thế gian không đời nào còn ai khác , duy chỉ Đức Mẹ mới đủ tư cách , đủ điều kiên để mang thai, sinh hạ và LÀM MẸ ĐẤNG TỐI CAO. Đấng ấy mới cứu vớt được chúng ta khỏi tội lỗi mà đưa chúng về cõi sống muôn đời.
          
         
 1-LỜI TIÊN TRI.
       Lc 2, 34-35: "Ông Si-mê-on chúc phúc cho ông bà, và nói với Ma-ri-a Mẹ của Hài nhi: "Thiên Chúa đã đặt con trẻ này làm duyên cớ cho nhiều người Is-ra-el phải vấp ngã hay chỗi dậy. Cháu còn là dấu hiệu bị người đời chống báng, còn chính Bà, thì một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn Bà, ngõ hầu những ý nghĩ tự thâm tâm nhiều người phải lộ ra."
       Phần đầu của lời tiên tri nói về Chúa Giê-su Ky-tô: "Thiên Chúa đã đặt con trẻ này làm duyên cớ cho nhiều người Is-ra-el phải vấp ngã hay chỗi dậy. Cháu còn là dấu hiệu bị người đời chống báng.": Quả thật đã ứng nghiệm: Giáo Huấn Chúa Ky-Tô như ba miếng men bà goá kia trộn vào đấu bột làm cho thế gian dậy men công chính và công nghiệp của Chúa Giê-su Ky-tô có thể cứu chuộc cả nhân loại từ thủa tạo dựng cho tới tận thế.   
         Còn phần của lời tiên tri nói về Đức Mẹ: "Còn chính Bà, thì một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn Bà": Cuộc đời đau khổ của Đức Mẹ bởỉ kết hợp với cuộc đời đau khổ của Chúa Giê-su Ky-tô mà tạo thành công nghiệp vô cùng cao cả. "Ngỏ hầu những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người phải lộ ra" là nhờ công nghiệp lớn lao đó mà Đức Mẹ đã cứu giúp tất cả những ai kính mến cậy trông Người, đã cứu chữa nhiều thôn xóm , vùng miền, nhiều đất nước dân tộc, chở che Giáo Hội và toàn thế giới. Chỉ một lời tiên tri này thôi cũng đã diễn giải minh bạch: Tại sao chúng ta phải kính mến cậy trông Đức Mẹ.
         2- ĐỨC NỮ MARIA VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI.
         Đoạn Kinh Thánh về việc Thiên Chúa tạo dựng trời đất trong vòng sáu ngày, làm nhiều người thắc mắc nghi ngờ, vì khoa học đã chứng minh rõ ràng vũ trụ đã hình thành hàng chục tỷ năm, trái đất vào hàng non trẻ cũng đã có số tuổi trên năm tỷ năm, sự sống đã có trên trái đất hàng trăm triệu năm. Trong khi A-dam, E-và tính theo giòng dõi cho đến thời Chúa Giê-su chỉ dưới năm ngàn năm, vậy thì đoạn Kinh Thánh đó sai sót quá xa về thời gian, đảo lộn quá nhiều về thứ tự hình thành vũ trụ, trái đất, mọi vật, mọi loài và con người... Suy ra A-Đam, E-và là Chuyện không có thật, như thế "ăn trái cấm" là chuyện tầm phào thì làm gì có "Tội Tổ Tông". Tệ nữa là người Công Giáo lại tin Đức Nữ Ma-ri-a là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội, và chẳng những tin mà còn buộc tín hữu phải tin, lại còn lập ngày lễ kính Đức Mẹ Vô Nhiễm thành ngày lễ trọng, lễ buộc. Do đó, nếu nhìn Kinh Thánh bằng con mắt ấu trĩ tầm thường thì Người Công Giáo, Giáo Hội Công Giáo bị tiếng là tin những điều nghịch lý phản khoa học thật.
          Nhưng Kinh Thánh không phản khoa học, hoặc như có người nói : Đó không phải là cuốn sách khoa học. Mà Kinh Thánh khoa học, siêu khoa học. Chính Kinh Thánh đã giải đáp những bế tắc giới hạn của khoa học con người, là thứ khoa học đang mò mẫm trong biển cả khoa học của Thiên Chúa.
          Chúa Thánh Thần là Đấng đã dùng khoa học tuyệt vời của Thiên Chúa để biến lịch sử của một dân tộc biết thờ kính Chúa hết lòng hết sức, hết linh hồn hết trí khôn, tìm kiếm gắn bó với Chúa từ rất lâu đời cho đến ngày giờ của Chúa Giê-su Ky-tô, thành LỊCH SỬ ƠN CỨU ĐỘ. Cho nên Kinh Thánh siêu khoa học thì đòi người đọc phải suy nghĩ và lý luận cách khoa học mới hiểu được Kinh Thánh, chứ ngược lại, đọc mà suy nghĩ cách thô thiển thì không những chẳng hiểu mà còn nghi ngờ vấp phạm. Vậy thì trước hết chúng ta hãy khiêm hạ cậy nhờ Chúa Thánh Thần là Đấng khôn ngoan thông thái tuyệt đối, soi dẫn để chúng ta hiểu đúng ý Kinh Thánh muốn diễn đạt.
          Như đã nói trong "Tội Tổ Tông" , A-đam chính là mỗi người đàn ông chúng ta, E-và là mỗi người đàn bà, bất cứ ai sinh con, cháu, chắt... cũng trở thành tổ tông. Còn việc ăn trái cấm là bất tuân luật Chúa, là hành động bất chính, là tội lỗi: "Có phải các ngươi đã ăn trái mà Ta đã cấm các ngươi không được ăn không ?" Và tội bị di truyền: "Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa giòng giống mi và giòng giống người ấy, giòng giống ấy sẽ đánh vào đầu mi và mi sẽ cắn gót nó." Cho nên cuộc sống mỗi người chúng ta có thể kiểm nghiệm cách khoa học thực tế là: Mầm mống tội lỗi bị di truyền qua máu thịt, qua thần kinh, qua trí não, qua linh hồn cha mẹ gắn bó liên kết với linh hồn con cái, và tội còn bị lan truyền bởi những gương mù gương xấu, mắt thấy tai nghe... Bởi vậy con người sinh ra là bị lệ thuộc cha mẹ, giòng giống và tha nhân mà kẻ ít người nhiều đều tham lam tiền tài, ham hố danh vọng, đam mê sắc dục... Mà phải giằng co vật lộn giũa thiện ác, tốt xấu...
           Còn Đức Nữ Maria được sinh ra từ một giòng dõi kính mến Chúa, trinh khiết , thánh thiện, nhân đức... Nên phúc đức di truyền mà đúc kết từ đời này sang đời khác, cho tới thời thân phụ thân mẫu của Đức Nữ Ma-ri-a là thánh Gio-an Kim và thánh nữ An-na là các bậc tột cùng thánh thiện tinh tuyền. Đức Nữ Ma-ri-a được thừa hưởng di sản đó mà đồng trinh trong trắng, vẹn tuyền mọi nhân đức. Và theo Định Luật "Có mới được cho" : Sự CÓ dư dật tràn đầy của Đức Nữ Ma-ri-a được Thiên Chúa CHO đặc ân lớn lao của Người là tuyệt nhiên không hề lây nhiễm vương vấn một thói tật nào của con người, từ khi Đức Nữ được thụ thai tới thời Người được nuôi dưỡng, và sống thanh sạch tinh tuyền không vương tội lỗi suốt cả đời: Đó là VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI.
          ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI có nghĩa rằng: ĐỨC MẸ TRỌN ĐỜI TRINH SẠCH VẸN TOÀN KHÔNG VƯƠNG NHIỄM TỘI TRẦN. Như thế Đức Mẹ mới xứng đáng được mang thai mà sinh hạ Chúa Cứu Thế là Chúa cả trời đất.
          Chúng ta được Chúa sinh ra trên cõi đời này , Người muốn chúng ta lập công để được hưởng phúc đời đời trên Nước Trời. Công phúc đó của chúng ta dù được nhân lên gấp trăm nhờ công nghiệp Chúa Giê-su Ky-tô , nhưng phải đền trả cho những tội lỗi của chúng ta, một phần phải bù đắp cho những sung túc hoan lạc ở đời. 
           Nhưng Đức Nữ Ma-ri-a từng bước đi, từng sự lao nhọc, từng nỗi khó khăn lo lắng, từng đoạn đau thương khốn khổ... Đã trở nên công nghiệp lớn lao vì không phải đền trả cho tội lỗi, không phải bù dắp cho những sung túc dư giả. Công nghiệp vô cùng lớn lao đó của Đức Mẹ như mảnh đất vô cùng màu mỡ, lại được hạt giống Công Nghiệp Chúa Giê-su gieo cấy sinh hoa kết quả mà nhân lên gấp ngàn vạn lần, nên Đức Mẹ được Thiên Chúa thưởng công bội hậu trên các thiên thần và các thánh. Bởi đó chúng ta thấy quyền năng của Đức Mẹ bao trùm cả thế gian.
          3- ĐỨC MA-RI-A, MẸ THIÊN CHÚA.
          Có kẻ cho Chúa Giê-su của chúng ta là tên phạm thượng, hoặc một kẻ lừa bịp. Lại có người nghĩ Chúa Giê-su của chúng ta chỉ là người cấp tiến; một nhà cách mạng. Cũng có số người nói Chúa Giê-su của chúng ta là một tiên tri như nhiều tiên tri khác, hoặc là một người đi tìm chân lý như Đức Thích Ca, Đức Khổng Tử...
          Nhưng Ga 1, 1-5: "Lúc khởi nguyên đã có Ngôi Lời, và Ngôi Lời vẫn ở nơi Thiên Chúa, và Ngôi Lời vẫn là Thiên Chúa. Người vẫn ở nơi Thiên Chúa ngay từ nguyên thủy. Mọi vật đều do Người tác thành. Và không có Người thì chẳng vật chi được tác thành trong mọi sự đã được tác thành. Ở nơi Người vẫn có sự sống, và sự sống là sự sáng của nhân loại." Và Chúa Giê-su cũng đã nhiều lần tỏ lộ hoặc xác nhận Người là Thiên Chúa: Ga 14, 7: "Nếu các con biết Thầy thì cũng biết Cha. Ngay từ bây giờ, các con đã biết Người và thấy Người." Hoặc Mt 4, 5-11: Sau đó quỷ đem Người đến thành thánh, và đặt Người lên nóc Đền Thờ, rồi nói với Người: "Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì gieo mình xuống đi ! Vì đã có lời chép rằng: "Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ lo cho bạn, và thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng, cho bạn khỏi vấp chân vào đá." Chúa Giê-su đáp: "Nhưng cũng có lời chép rằng: "Ngươi chớ thử thách Thiên Chúa là Chúa của ngươi." Quỷ lại đem Người lên một ngọn núi rất cao, và chỉ cho Người thấy tất cả các nước thế gian, và vinh hoa lợi lộc của các nước ây, và bảo rằng: "Tôi sẽ cho ông tất cả những thứ đó, nếu ông sấp mình bái lậy tôi." Chúa Giê-su liền nói: "Sa-tan kia xéo đi ! Vì đã có lời chép rằng: "Ngươi phải bái lạy ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ lạy một mình Người mà thôi..."
          Thế nhưng đâu phải ai cũng nhận ra Chúa Giê-su là Thiên Chúa, mà chỉ những người có phúc mới được Thiên Chúa soi dẫn để nhận biêt: "Ai đón nhận giáo huấn của Cha thì sẽ đến với Ta." Chỉ có ai nghe và thực hành Lời Chúa thì Chúa mới cho thấu hiểu sự khôn ngoan tuyệt đỉnh của Lời Người thì mới nhận ra Chúa Giê-su là Thiên Chúa thật: "Con chiên Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta."
          Vậy, vì Chúa Giê-su là Thiên Chúa thánh thiện siêu việt cao trọng, làm một với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Thánh Thần, nên Đức Mẹ phải thanh sạch trong trắng trọn đời không vương tội lỗi và vẹn toàn mọi nhân đức mới xứng dáng làm MẸ THIÊN CHÚA.
          Giáo Hội đã tuyên phong thiên chức Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa và cử hành đại lễ mừng kính Đức Mẹ vào ngày một tháng Giêng hàng năm. Nhờ lòng sùng kính cậy trông Đức Mẹ mà Giáo Hội được ơn nhận biết chức vị cao trọng đó của Người. Chức vị đó không chỉ có từ khi Giáo Hội nhận biết và tôn phong, mà đã nằm trong kế hoạch của Thiên Chúa: "Này đây một trinh nữ sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Êm-ma-nu-el, nghĩa là THIÊN CHÚA Ở CÙNG CHÚNG TA." Và ngay khi Đức Nữ Ma-ri-a nhận lời sứ thần Ga-bri-el để chịu thai, thì Người đã chính thức là MẸ THIÊN CHÚA.
          Chúa Giê-su là Đấng Vô Tội, cho nên tất cả sự nghèo hèn lao nhọc suốt cả đời và cuộc tử nạn vô cùng đau đớn nhục nhã của Người đã tạo nên công nghiệp vô cùng cao trọng trước mặt Đức Chúa Cha, nhưng chức vị của Chúa Giê-su là Thiên Chúa nên công nghiệp của Người được nhân lên muôn muôn ngàn ngàn, mà có thể đền bù tội lỗi cho cả nhân loại.
          Cũng vậy, chức vị Mẹ Thiên Chúa của Đức Mẹ muôn trùng cao trọng thế nào, thì CÔNG NGHIỆP của Đức Mẹ cũng được nhân lên muôn muôn trùng trùng như vậy. Cho nên Thiên Chúa đã thưởng công bội hậu mà Đức Mẹ có quyến thế trên trời dưới đất trên tất cả các thiên thần và các thánh. Chúng ta kính mến cậy trông Đức Mẹ thì được Người tuôn đổ ơn lộc vô vàn vô tận từ công nghiệp của Người .

                     4- ĐỨC MẸ HẰNG CỨU GIÚP.
          Ga 2, 1-11: "Ngày thứ ba, có tiệc cưới tại Ca-na, xứ Ga-li-lê-a. Và có Mẹ Chúa Giê-su ở đó. Chúa Giê-su và các môn đệ Người cũng được mời dự tiệc cưới. Và vì thiếu rượu, mẹ Chúa Giê-su nói với Người: "Họ hết rượu rồi." Chúa Giê-su nói với mẹ: "Hỡi Bà, tôi với Bà có can chi đâu, giờ tôi chưa đến." Mẹ Người nói với những kẻ giúp việc ở đó rằng: "Hễ Người bảo gì thì hãy làm theo." Ở đó có sáu chum đá, dùng vào việc thanh tẩy của người Do-thái, mỗi chum đựng được hai hoặc ba thùng nước. Chúa Giê-su bảo họ: "Hãy đổ nước đầy các chum." Họ đổ đầy tới miệng. Và Chúa Giê-su bảo họ: "Bây giờ hãy múc đem cho người quản tiệc" và họ đã đem đi. Khi người quản tiệc nếm thử nước đã hóa thành rượu, ông không biết từ đâu ra, nhưng những người giúp việc đã múc nước thì biết, ông mới gọi tân lang mà nói: "Ai cũng đem rượu ngon ra trước, khi khách ngà ngà thì mới đem rượu xoàng hơn. Còn ông, ông lại giữ rượu ngon tới giờ này." Chúa Giê-su làm phép lạ đầu tiên này tại Ca-na xứ Ga-li-lê-a, và đã tỏ vinh quang Người và các môn đệ Người đã tin Người."
          Chúa Giê-su là bậc thầy dậy luân lý đạo đức mà lại gọi mẹ mình bằng "bà"?
          Nhưng chớ có lầm lẫn, chính chữ "Bà" là chìa khóa để mở ra căn lý của việc tôn kính Đức Mẹ.
          Trước tiên ta thấy lòng thương người của Đức Mẹ đã để mắt đến việc người ta thiếu rượu vì chắc chắn Đức Mẹ không uống rượu, và nếu chúng ta để ý việc Đức Mẹ đến nói với Chúa một câu rất lạ lùng: "Họ hết rượu rôi", làm như Chúa chịu trách nhiệm về việc người ta hết rượu, và như Chúa có cả một kho rượu ngay bên cạnh Người vậy. Nhưng câu này cho chúng ta thấy Đức Mẹ biết tường tận về Chúa Giê-su con yêu dấu của Mẹ, cho thấy Đức Mẹ là người trong cuộc, là người chung phần chung vốn với Chúa, Đức Mẹ biết Chúa có quyền năng trong mọi sự mọi việc thì mới có câu nói quá tự nhiên như vậy. Đó là vì sự kết hợp linh hồn hai mẹ con, và Đức Mẹ đồng trinh thanh sạch mà dầy tràn ơn thông biết của Chúa Thánh Thần, hơn nữa Đức Mẹ sống ba mươi năm bên Chúa trong tình mẹ con, chẳng lẽ Chúa không tỏ lộ đôi chút cho Người Mẹ rất yêu dấu của Người, nên trong sự thông hiểu giữa hai mẹ con mà Đức Mẹ nói rất ngắn gọn: "Họ hết rượu rồi" cũng không có gì lạ.
          Ngược lại Chúa Giê-su là Thiên Chúa thông biết mọi sự, Người biết Mẹ của Người sẽ lập công nghiệp vô cùng cao cả mà có quyền năng thần thế trên trời dưới đất, cả thế gian sẽ được hưởng nhờ công nghiệp của Mẹ. Cho nên "Bà" là từ ngữ xưng hô của vị Vua cả trời đất với Đấng có quyền thế trên muôn vàn thần thánh, Đấng có thể dùng thế lực của mình mà can thiệp vào mọi sự mọi việc trên trời dưới đất. Vậy Chúa Giê-su xưng "Bà" với Đức Mẹ là sự kính cẩn tôn trọng, là sự chúc tụng ngợi khen Mẹ của Người.
          Rồi chúng ta lại thấy lạ lùng thêm nữa là sau khi Chúa đã nói: "Hỡi Bà, tôi với Bà có can chi đâu, giờ tôi chưa đến." Thế mà Đức Mẹ lại bảo những người giúp việc: "Hễ Người bảo gì thì hãy làm theo": Có nghĩa rằng chẳng những Đức Mẹ biết Chúa có thể làm được những viêc cả thể lạ lùng, mà còn biết chắc chắn Chúa không chối từ Đức Mẹ điều gì, dù kế hoạch của Chúa Giê-su chưa đến lúc cần cho thiên hạ thấy quyền năng của Chúa. Cho nên chúng ta không lấy làm lạ khi Đức Mẹ đã được Thiên Chúa thưởng quyền năng trên trời dưới đất thì Đức Mẹ luôn ra tay cứu giúp mọi người trong mọi nơi mọi lúc, chẳng những kẻ kêu cầu Mẹ mà cả những ai chưa kịp kêu xin, như trường hợp tại tiệc cưới Ca-na này.
          Chúng ta còn thấy Chúa Giê-su xưng "Bà" với Đức Mẹ khi bị treo trên thập giá: Ga 19, 26-27: "Khi thấy Mẹ và bên cạnh có môn đệ Người yêu, Chúa Giê-su thưa cùng Mẹ rằng: "Hỡi Bà, này là con Bà." Rồi Người lại nói với môn đệ: "Này là Mẹ con." Và từ giờ đó môn đệ lãnh nhận bà về nhà mình." : Như chúng ta biết về tình mẹ con, Chúa Giê-su thương Đức Mẹ vô cùng vô hạn, đến nỗi trong cơn đau đớn tận cùng lúc gần tắt thở đó mà Chúa còn dùng tàn sức để trối Mẹ Người cho thánh Gio-an, vậy thì cớ sao Chúa lại xưng với Mẹ Người là "Bà"? 
           Nhưng Chúa Giê-su biết rằng những đau thương Đức Mẹ đang gánh chịu, những lo âu khốn khó suốt cuộc đời cộng với những nhân đức cao vời của Đức Mẹ, sẽ trở thành công nghiệp vô cùng lớn lao, công nghiệp lớn lao ấy được nhân lên gấp trăm gấp ngàn nhờ công nghiệp Chúa Giê-su Ky-tô, và lại được nhân lên ngàn vạn lần bởi chức vị MẸ THIÊN CHÚA, cho nên Đức Mẹ được Thiên Chúa thưởng công mà có thần thế: Cả thần thánh trên trời đều kính bái ngưỡng mộ và vâng phục Đức Mẹ, cả hỏa ngục nghe danh Ma-ri-a đều khiếp hãi run sợ. Cho nên Chúa Giê-su vì thương mà trao phó cả nhân loại cho Đức Mẹ, để nhân loại được hưởng nhờ công đức của Người. Vậy câu "Hỡi Bà, đây là con Bà" hàm ý rằng: Hỡi Bà, đây là đàn con còn ở dưới thế đang cần nương nhờ công nghiệp của Bà, xin Bà bênh vực chở che, dìu dắt dậy bảo." Thế thì "Bà" là từ ngữ để xưng hô giữa Vua trời đất với Đấng thánh quyền thế trên hết các thiên thần và các thánh dưới ngai Thiên Chúa. Và Chúa Giê-su chỉ dùng cách xưng hô đó trong sự kiện trọng đại là TRAO PHÓ CẢ NHÂN LOẠI CHO ĐỨC MẸ, còn nếu chỉ đơn giản là trối Đức Mẹ cho thánh Gio-an bảo dưỡng săn sóc thì Chúa Giê-su chỉ dùng chữ Mẹ.
           Rồi từ sau lời trối trăn của Chúa, Đức Mẹ hằng dạy dỗ, ủi an, khuyên nhủ các tông đồ trong những ngày đầu xây dựng Giáo Hội, cho tới khi Đức Mẹ được Chúa rước cả hồn lẫn xác về trời và thưởng công bội hậu, mà có uy quyền thần thế dưới ngai Thiên Chúa, thì Đức Mẹ luôn dùng công nghiêp của Người để ban phát cứu giúp không những tất cả những ai kêu cầu Người mà cả cộng đoàn, giáo xứ, địa phận, vùng miền, đất nước, Giáo Hội và toàn thế giới trong mọi cơn gian nan khốn khó. Tuy nhiên, vì Định Luật "Có mới được cho" của Thiên Chúa, là chúng ta phải CÓ công phúc thì Đức Mẹ mới được phép CHO, mới được quyền ban ơn. Cho nên trước những tai ương khốn khó sắp xảy ra bất cứ nơi nào trong thiên hạ, thì Đức Mẹ thường hiện ra khuyên dạy người ta xám hối ăn năn, đền bù phạt tạ Trái Tim Chúa Giê-su và Trái Tim Đức Mẹ, lần chuỗi Mân Côi... Để tạo nên công phúc thì Đức Mẹ mới có quyền can thiệp là bênh vực, chở che, cứu chữa gấp ngàn vạn công phúc của chúng ta tạo ra, như chúng ta đã nhìn thấy rất rõ, chỉ bằng con mắt thật khách quan.
          5-NGUỒN ƠN ĐỨC MẸ BAN CHO CHÚNG TA.
          Mỗi khi gặp khó khăn thiếu thốn phần xác, chúng ta chạy đến kêu xin Đức Mẹ bầu cử chở che, đều nhanh chóng được cứu giúp hơn là chạy đến cùng Chúa, bởi Chúa ứng xử với chúng ta mang tính của người cha: Yêu thương, người cha nghiêm khắc với con cái hơn, vì với định luật của Chúa thì sự khó khăn thiếu thốn, đau khổ ở đời này sẽ trở thành công trạng, thành phần thưởng đời sau, cho nên trong Tin Mừng chúng ta thấy Chúa Giê-su không cho ai của gì vật gì, ngoại trừ hai lần hóa bánh cho người ta ăn trong lúc đói, thậm chí có người kia nhờ Chúa can thiệp để người anh chia gia tài, mà Chúa đã đáp cách khiển trách: "Này anh kia, ai đã đặt Ta là người xử kiện hay người chia gia tài cho các ngươi?"
         Còn Đức Mẹ cũng yêu thương con cái loài người, nhưng Người ứng xử theo cách của một người mẹ dịu hiền, Đức Mẹ cũng dùng công trạng của Người để bù đắp định luật công thẳng của Chúa, và có những cách an ủi vỗ về, làm vơi dịu những nỗi khó khăn đau khổ, dĩ nhiên luôn với mục đích dẫn đưa chúng ta đến với Chúa, như trong tiệc cưới Ca-na đó, Chúa Giê-su hiển nhiên là biết trước Đức Mẹ về việc thiếu rượu, nếu theo ý Chúa thì cứ để cho người ta khó khăn thiếu thốn, sượng sùng tủi hổ, như vậy mới là có phúc và phần phúc đó cộng thêm vào vốn liếng đời sau. Nhưng cách của Đức Mẹ là dùng ảnh hưởng (công trạng) của Người để nài ép Chúa cứu giúp người ta qua cơn khốn khó đó, rồi dẫn đưa người ta đến với Chúa: Ga 2, 11: "Chúa Giê-su đã làm phép lạ đầu tiên này tại Ca-na xứ Ga-li-lê-a, và đã tỏ vinh quang Người và các môn đệ đã tin Người."
         Vì thế cầu khấn Đức Mẹ chúng ta thường dễ dàng được những ơn cứu giúp về nhu cầu phần xác nhiều hơn, càng kính mến cậy trông Đức Mẹ , chúng ta càng được chở che đỡ đần, nhiều người nhờ năng lần chuỗi Mân Côi mà Đức Mẹ luôn ban những dấu lạ, ơn lạ để ủi an nâng đỡ họ hàng ngày, việc đó không phải ngẫu nhiên mà ngàn lần như một, mà chúng ta thấy rất rõ trên đường đời: cùng một nghịch cảnh, một tai ương, một nỗi khốn khó, mà người kính mến cậy trông Đức Mẹ luôn luôn được che chở ủi an gấp nhiều lân, cả tinh thần lẫn vật chất.
          Từng người, từng nhà đã vậy, Đức Mẹ còn ban những ơn lớn lao cả thể, chỉ cần nhìn cách trung thực khách quan, chúng ta có thể thấy bất cứ nơi nào sắp xảy ra những tai ương khốn khó thì Đức Mẹ liền hiện ra ủi an khuyên bảo, chỉ dạy người ta cách thức tránh tai họa. Chẳng hạn đầu thế kỷ 20 , cả thế giới đứng trước thảm họa của quyền lực ác độc bạo tàn và những học thuyết vô cùng gở lạ đẩy thế giới vào con đường diệt vong. Tại Bồ-đào-nha năm 1917, nơi nhà cầm quyền có âm mưu độc ác muốn tiêu diệt sạch Công Giáo, Đức Mẹ đã hiện ra tai Fa-ti-ma cùng ba em nhỏ, truyền dạy nhủ khuyên rằng: 
                           -Hãy ăn năn xám hối cải thiện dời sống
                           -Hãy tôn sùng đền tạ Trái Tim Đức Mẹ
                           -Hãy siêng năng lần hạt Mân Côi
          Và Giáo Hội đã thi hành tích cực triệt để mệnh lệnh của Đức Mẹ: Từng người, từng nhà kết hợp với xứ đạo, địa phận, quốc gia cùng toàn Giáo Hội khắp thế giới, thành Phong Trào Đền Tạ Trái Tim Đức Mẹ sầm uất sôi nổi, cho nên Đức Mẹ đã cứu chữa cách hết sức lạ lùng: Cả dân nước và chính quyền Bồ-đào-nha ăn năn trở lại tôn sùng kính mến Trái Tim Đức Mẹ, dâng nước dâng nhà cho Đức Mẹ.
          Hoặc ngay từ khi dảng Cộng Sản nắm quyền ở Nga, với chế độ độc tài sắt máu và tà thuyết vô thần chủ trương tiêu diệt toàn bộ các tôn giáo, không riêng nước Nga mà toàn thế giới. Đức Mẹ đã gửi thông điệp qua chị Lu-ci-a, hứa nếu Đức Giáo Hoàng dâng nước Nga cho Đức Mẹ, cộng với việc thi hành ba mệnh lệnh Fa-ti-ma thì Đức Mẹ sẽ giúp được cho nước Nga ăn năn trở lại, đó là điều kiện quá dễ dàng để Đức Mẹ nhân đó mà cứu cả thế giới. Nhưng mãi tới năm 1984, nước Nga mới được Đức Gio-an Phao-lô ll chính thức hiến dâng theo đúng nghi thức mà Đức Mẹ đã yêu cầu. Kết quả là ngay sau đó, không những nước Nga mà toàn khối Liên Minh Đông Âu của Nga đã sụp đổ và làm một cuộc cải cách lớn lao không hề đổ máu, và bắt tay vào xây dựng dân chủ dân sinh nhất là việc tự do tôn giáo. Thật rất bất ngờ, rất lạ lùng ! Người ta cứ ngỡ cuộc đổi đời này phải "Máu thành sông, xương thành núi". Điều đó làm sao có thành quả tốt đẹp như vậy nếu không phải là quyền phép của Thiên Chúa qua sự bầu cử nài xin của Đức Mẹ.
          Người theo Chúa Ky-tô không kiêng giữ chay tịnh bằng nhiều Phật Tử, không nhiều luật lệ bằng người Do-thái, không ăn chay giữ luật bằng người Hồi Giáo, nhưng công nghiệp của chúng ta được nhân lên gấp trăm gấp ngàn nhờ công nghiệp Chúa Giê-su Ky-tô. Riêng những người có lòng kính mến cậy trông Đức Mẹ còn được cứu giúp chở che bởi công nghiệp cao cả của Người mà cuộc sống thanh thản, bình an, vững vàng hơn nhiều.
          Người thế gian làm phúc cho chúng ta một lần thì chúng ta nhớ mãi, biết ơn và yêu quý họ mãi, huống chi Đức Mẹ luôn luôn che chở cứu giúp, ủi an, nâng đỡ chúng ta và chúng ta còn phải nương nhờ Người từng ngày từng giờ cho đến khi về quê thật. Cho nên chúng ta kính mến cậy trông Đức Mẹ là tuyệt đỉnh khôn ngoan và phải lẽ. 

                                                                                                                                                2002
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn