16- CHÚA DẪN TÔI ĐI

10 Tháng Sáu 20161:39 CH(Xem: 2596)
16- CHÚA DẪN TÔI ĐI
                            
                                                                 
                                                             16- CHÚA DẪN TÔI ĐI

                                                               

          Chắc nhiều bạn đặt dấu hỏi sau khi đọc những bài viết của tôi. Vì có nhiều khám phá mới lạ, nhiều giải đáp khác thường. Cho nên các bạn muốn biết tôi là ai mà dám cả gan làm chuyện đó?  Nếu công việc này không nhờ bởi ơn Chúa mà lại phát sinh từ kiêu ngạo, ích kỷ, khoe khoang, thì tôi đáng nhận án phạt cho chính những điều tôi tự viết ra. Vậy mời các bạn hãy đọc xem Chúa đã thương yêu và dạy dỗ tôi cách nào? Người đã bảo vệ thân xác tôi khỏi hàng trăm cơn nguy biến nhưng Người đã chở che linh hồn tôi khỏi tội lỗi còn nhiều hơn cả phần xác. Dù tôi chưa từng được thấy Chúa, chưa từng được nghe tiếng Chúa, chưa bao giờ được mơ thấy Chúa nhưng mọi sự mọi việc mỗi ngày trong cuộc đời, tôi đều được ơn nhận biết rằng tôi luôn có bàn tay Chùa chở che, nâng đỡ, hướng dẫn...
          Cách đây gần mười năm, tập bài viết của tôi chớm gọi là hoàn chỉnh, lúc đó vì quá nóng vội nông nổi, tôi định nhờ người in và phổ biến ngay, không phải vì muốn nổi tiếng nhưng với ý tưởng thơ ngây là sẽ có người sẽ chụp lấy dàn bài gợi ý của tôi mà phát triển để hoàn chỉnh những điều mới lạ mà tôi đã khám phá, với hy vọng giúp Giáo Hội dẫn dắt các bạn trẻ, nhất là các bạn nghiên cứu Phúc Âm mà đem so đọ với nhận thức khoa hoc của họ. Vì thế năm 2007, tôi đã đem tập bài viết này nhưng với tựa đề "Những Định Luật Siêu Nhiên" đến với một người em họ, giới thiệu với chú: "Đây là sáng tác của một ông thầy của tôi, nhưng ông muốn giấu tên, chỉ muốn thiên hạ biết đến ông qua cái tên Hồn-nhỏ." Tôi cứ ngỡ chú ta sẽ quý "Ông Thầy" của tôi trong việc không phô trương tên tuổi, mà đọc rồi  giúp tôi phổ biến những khám phá mới lạ này, nhưng chú ấy lại  đưa cho tôi xem cuốn sách mới của chú: "Anh xem đây này, có tên có tuổi đầy đủ mà không ai thèm đọc, huống hồ là không tên..." Tôi rút lui trước cặp mắt thương hại của bà vợ chú ta. Lúc đó tôi cứ nghĩ mình gõ không đúng cửa, nên năm 2009 nhân cơ hội về Việt Nam, tôi đem tập bản thảo này đến văn phòng của dòng Chúa Cứu Thế ở đường Kỳ Đồng, vì tôi biết dòng này rất nhiều cha thông hiểu khoa học. Không may cho tôi, lại vào đúng giờ cao điểm, văn phòng chật ních người chờ, người thư ký tiếp tôi mà có lẽ nghi tôi là một người mắc bệnh thần kinh trong cái dáng hớt hải của tôi: "Cái gì đây?" Tôi lập cập: "Dạ... Tập bài viết ạ!" Người thư ký nóng vội: "Viết về cái gì?" Tôi trả lời không kịp lấy hơi: "Dạ bài viết về Kinh Thánh ạ, tôi muốn gặp một vị linh mục để hỏi ý của ngài ạ!" Người thư ký vừa nói vừa nghĩ: "Ờ... Cha vừa mới đây xong... Cái này thi... Cứ đem sang Tòa Giám Mục... Bên đó có người xem xét..." Trên đường về ngẫm nghĩ tự nhủ: sao mình lại trả lời ông ta như vậy, Kinh Thánh thì còn gì nữa mà phải viết? Mà lại đem khoe với các cha dòng Chúa Cứu Thế ! Bao nhiêu hy vọng cho chuyến về Việt Nam lần này coi như đã tiêu tan... Nhưng sau khi về nhà được tắm rửa mát mẻ, tôi lại lên tinh thần, ngày hôm sau tìm đến nhà thờ Ba Chuông, của các cha dòng Đa Minh, nơi đây năm xưa tôi đi lễ sớm chiều và thường được nghe cha Trần Mục Đích giảng dạy, cũng là ngôi trường Saint Thomas nơi tôi từng theo học, tôi còn nhớ cha Vang, thầy Vũ Bảo Ấu, thầy Lữ Hồ, thầy Nguyễn Trọng Cơ, thầy Yên... Nhưng tôi cũng thất vọng, người thư ký ở đây không hề vội vã, ông lấy giấy mực ghi cho tôi địa chỉ của Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ. Đáng lẽ tôi phải tìm đến với nhóm này, nhưng thái độ của cả ba người tôi đã gặp làm tôi mất can đảm, vì không ai mảy may tỏ dấu thắc mắc là tôi viết cái gì, cũng chẳng ai lật một trang để xem tựa đề của bài viêt...  Tai sao lại có thể như vậy được? Sau này tôi mới biết đó là ý Chúa, vì kiểm lại tôi thấy những bài viết còn quá nhiều thiếu sót. Năm 2010 tôi sao chép sửa chữa rất cẩn thận những bài viết rồi lần lượt gửi, đầu tiên là  n/s Trái Tim Đức Mẹ , sau đó tới n/s Dân Chúa, rồi tới n/s Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, rồi n/s Diễn Đàn Giáo Dân. Trong bốn tờ nguyệt san thì tờ Diễn Đàn Giáo Dân đã gọi cho tôi chỉ mấy ngày sau khi tôi gửi bài cho họ, thật vô cùng cảm động, người trong máy đã hỏi tôi có phải là linh mục hoặc tu sĩ, hoặc là tu xuất hay không ? Tôi trả lời là rất tiếc tôi không phải, làm ông thắc mắc tại sao tôi lại được "mặc khải"? (Chữ "mặc khải" là do ông nói, vì trước đó tôi chưa từng nghĩ tới, và tôi cũng không nghĩ phải là linh mục tu sĩ mới được mặc khải.) Nhưng ông tỏ ý tiếc rằng ông không có thẩm quyền để in những ấn phẩm thuộc về tín lý. Và ông đề nghị nếu có thể thì cho ông lưu làm tư liệu, hoặc là ông sẽ trả lại. Lúc đó tôi buồn ghê lắm vì những nơi khác tôi đã gửi có nơi cả tháng mà không thấy ai gọi lại, nên tôi xin ông làm ơn gửi lại tập bản thảo . Mấy bữa sau tôi đã nhận lại được tâp bản thảo đã được gói ghém rất cẩn thận, lại còn được cho kèm thêm một tờ Diễn Đàn Giáo Dân. Thật vô cùng cám ơn người có lòng tốt, dù tôi chưa kịp hỏi tên. Trong đời tôi rất hiếm khi gặp được người tử tế như vậy. Sau đó tôi hy vọng đợi chờ, ban đầu tôi nghĩ khen chê thì cùng lắm chỉ vài tuần là tất cả những nơi tôi gửi đi đều gọi lại cho tôi, ai dè đâu suốt năm năm mong mỏi, tôi buồn bã tự hỏi, không lẽ tất cả những điều tôi cứ nghĩ là tuyệt vời đó là tào lao mà đi vào sọt rác hết sao? Suy đi nghĩ lại tôi quyết định cứ liều đem lên mạng để thiên hạ phán xét. Không ngờ trong việc đưa bài lên mạng, tôi đã sửa chữa được rất nhiều sai sót và còn khám phá nhiều điều quan trọng hơn trước như tôi đã viết thêm được mục "Chúa Giê-su, Bánh Hằng Sống", "Giáo Hội, Nhiệm Thể Chúa Ky-tô" và "Thiên Chúa Ba Ngôi". Lúc này tôi mới hiểu đó là ý Chúa, vì chính sự thận trọng của Giáo Hội đã góp phần vào sự nghiệp của tôi. Nói là "sự nghiệp" vì tôi vô cùng quý trọng những bài viết này, tôi cứ nghĩ nếu Chúa không soi dẫn thì một câu tôi cũng chẳng viết nổi, cho nên bắt buộc tôi phải viết để các bạn biết tôi là kẻ quá ngu dốt, dại dột, tội lỗi, điên cuồng... Mà Chúa đã dìu dắt, hướng dẫn, dạy bảo tôi như thế nào. 
            QUÊ TÔI.
          Tôi sinh đầu năm 1948, cho tới năm 1951 tức là chưa đầy bốn tuổi tôi đã có trí khôn và nhớ lại rất rõ hầu như tất cả những diễn biến trong những ngày tháng đầu đời đó, có lẽ bởi tôi đã trải qua quá nhiều lo lắng sợ hãi. Người làm tôi hãi sợ đến chết là một ông hàng xóm, gọi là hàng xóm nhưng cách một con sông nhỏ, người làng tôi ai cũng gọi là sông nhưng đúng ra là một con lạch và với cái tuổi lên ba lên bốn cùa tôi, nó giống như như một con sông vĩ đại mênh mông, tôi vẫn thấy ông hằng ngày kéo vó bên bờ bên kia, trên cái lều vó có mấy cái cột in bóng ngoằn nghèo trên sóng nước, làm tôi cứ tưởng đó là những con thuồng luồng. Chẳng biết ông phải mất bao lâu để vòng từ bên đó  qua chiếc cầu đá giữa làng sang nhà tôi mà lâu lâu ông lại xuất hiện, phùng má trợn mắt cố làm tôi sợ hãi giữa những tiếng cười ngặt nghẽo đồng lõa với cái kiểu dọa làm cho trẻ con chết khiếp, có lẽ chẳng bao giờ họ hiểu rằng cái trò tiêu khiển đó sẽ khiến tôi trở thành đứa trẻ nhút nhát... Rôi một ngày  lúc bắt gặp mấy đưa tôi đang bám cọc cầu ao tập bơi, vì sợ chúng tôi chết đuối nên ông dặn: "Này, hễ có đứa nào trôi ra giữa sông thì mấy đứa kia phải gọi người lớn ngay nhá..." Từ đó tôi mới bắt đầu hiểu ra là ông ta cũng thương tụi tôi, và từ đó ông cũng không còn trêu vì tôi đã hết sợ, hai là vì đã đến thời ông ta lại bị trêu chọc: "Ha ha ha... Ông Diệm... Ông Diệm... Ngô Đình Diệm..." Sau này tôi mới hiểu chính ông cũng sợ những lời trêu chọc đó: Tôi không rõ họ của ông là gì, nhưng ông tên là Diệm, nếu như một nơi khác thì ông Diệm chẳng có gì phải sợ, trùng tên với một người có tiếng tăm mà được người ta nhắc đến thì cũng vui chứ sao, nhưng ở trong cái làng rất nhỏ bé chỉ mấy chục mái nhà, đã bao tranh giành giết chóc, người chết, máu đổ mọi ngõ mọi nghách, cái cảnh "Bỏ rọ trôi sông", "Lột da", "Phanh thây", "Chặt đầu"... Đều đã xảy ra ở mảnh đất chưa đầy một cây số vuông này, vì thế ông Diệm sợ người ta nghi ông tuyên truyền gây thanh thế cho ông Ngô Đình Diệm, nghi ông là "Việt gian" thì dễ có ngày bị gõ cửa giữa đêm...
         
          Nỗi khiếp sợ thứ hai là sợ "Tây về". Thoạt đầu Tây về, dân làng tôi không mấy sợ hãi vì Tây trắng, Tây đen đều tỏ vui vẻ thân thiện, nhất là khi những anh lính "Việt-nam-miên" cùng về, bọn trẻ con chúng tôi vẫn chơi đùa trên sân nhà thờ. Thế nhưng sự bình an của chúng tôi đã khiến ma quỷ nổi cơn ghen tức: Một lần Tây về cách làng còn xa xa, chợt hai anh du kích với hai khẩu "Oản tầm sào"  huỳnh huỵch chạy từ đầu làng đến cuối làng chĩa súng về phía lính Pháp: "Đoành ... đoành..." Chỉ đúng hai phát rồi luồn bụi biến sang làng khác... Dân làng không biết có ai để ý không, nhưng thầy tôi bảo chúng tôi: "Việt Minh nó phá làng đấy con ạ !..." Quả thật, ngày hôm ấy Tây trắng, Tây đen đều hung hăng táo tợn, vào nhà nào cũng đập phá lục lọi nhà nào cũng hỏi du kích, gặp ai cũng chĩa súng: "Viết Minh?... Viết Minh?..." Nhiều người không khéo bị ăn báng súng. Có lần một người khá lớn tuổi là ông Lý Độ, thấy bóng Tây đi vội vào nhà bị Tây bắn chết luôn... Trò ly gián rẻ tiền như thế mà lại lừa được người Pháp, chẳng hiểu cấp chỉ huy của họ nghĩ thế nào mà từ đó người Pháp coi làng tôi như một chiến khu của Việt Minh dù trong làng một mống du kích cũng không có. Những lần Tây về sau này ai gặp chúng đều là tới số, đàn ông con trai bị Tây bắt, đàn bà con gái bị Tây hiếp. Trong nhà ngoài vườn có gì là Tây vừa cướp vừa phá, từ trâu bò lợn gà cho tới trái bưởi trái cam... Cho nên mỗi lần nghe tiếng ai hô "Tây về" thì cả làng hãi sợ như tận thế đến nơi, ai cũng sắp xếp kế hoạch chu đáo để mỗi khi Tây về thì chạy cho nhanh, cho gọn. Cái tuổi lên bốn lên năm của tôi cũng vì cái nạn "Tây vê" mà không được cười đùa hoặc nói lớn tiếng để mỗi khi có ai hô "Tây về" thì còn nghe được mà chạy. Có lần chạy Tây, anh trai thứ ba của tôi một tay dắt tôi một tay dắt con bò tơ thầy tôi mới tậu, con bò này mà Tây vớ được thì khỏi chê, cho nên giá nào cũng phải dẫn nó trốn biệt, dè đâu nó cứ chạy được một đoạn lại quay lại kiếm chuyện với con bò của ông hàng xóm cũng đang cần phải chạy thật nhanh, mà luýnh quýnh thế nào tôi lại đạp trúng phải một chùm gai mây nhọn hoắt, ba bốn chiếc gai đâm thấu xương, lúc đó tưởng như cùng đường rồi nhưng anh tôi bế thốc tôi lên lưng, rồi nhặt được một cành tre cứ mông con bò mà quất , thế mà lần đó anh em tôi thoát. Cũng may cuối làng tôi là khúc quanh của một con đê, cây cối um tùm dẫn sang những làng khác, dân làng tôi nhờ thế chạy Tây an toàn, nhưng du kích Việt Minh cũng biết lợi dụng địa thế đó để luồn lách mà phá làng, mà giết người làng tôi.
            
          Chạy Tây đã khốn khổ rồi, chạy đại bác còn khốn nạn hơn. Từ khi người Pháp liệt ngôi làng nhỏ bé chúng tôi thành mật khu của Việt Minh thì thường hay có những chiếc "Tầu bay Bà già" bay lượn nghiêng nghé, có lẽ Việt Minh cứ tưởng việc làm thâm hiểm mượn lính Pháp giết người của họ không ai biết, nên họ lại dở cái vở lần trước, cứ một hai viên "oản tầm xào" bắn lên chiếc "bà già" rồi cha con luồn bụi biến mât, họ chỉ tốn vài viên đạn mà dân làng tôi đêm đêm hấng chịu bao hãi hùng chết chóc chẳng biết giờ nào phút nào ập xuống. Có lẽ Tây ở trên đồn cách làng tôi vài ba cây số tưởng là có hàng tiểu đoàn Việt Minh trong làng thì mới ngang nhiên bắn máy bay, nên họ nã đại bác về để trấn áp. Từ đó nhà nào cũng đào hố tăng xê tránh đạn, Thầy tôi đào một hố to chiếm cả gian nhà, đống gỗ lim quý hóa trù tính sẽ xây ngôi nhà mới, thầy tôi đành phải dùng số gỗ ấy xếp lên miệng hố làm rầm rồi đổ đất cao lên đến mái nhà. Trong những ngày tháng bom đạn ác liệt đó, bọn trẻ chúng tôi ban ngày bị bắt phải chơi quanh hố tăng xê để khi nghe tiếng đạn rít còn kịp xuống hố, ban đêm thường thì đạn nổ ầm ầm rồi chúng tôi mới tìm được đường xuống hầm, có đêm chăn màn vướng víu cả nhà sáu bảy người mắc kẹt ngay cửa hầm, cũng may sau đó đạn không tiếp tục nổ nữa, cái cảnh hú hồn hú vía như vậy mà ngày hôm sau lại thành câu chuyện cười vui của cả nhà, cho thấy chúng tôi đã dạn dày với bom đạn đến cỡ nào.
            
            Khoảng giữa năm 1953, tình hình thay đổi, làng tôi không còn nạn Tây về, cũng chẳng còn đại bác mo-óc-chê nhưng Việt Minh xuất hiện mườn mượt, đầu tiên là tiếng những bước chân rầm rập trong đêm khuya trước những cặp mắt lo âu của thầy mẹ tôi, những ngày sau đó là những cuộc họp thật kỳ lạ: tối tối mỗi nhà đều có một anh du kích leo lên một ngọn cây, anh có loa bằng sắt tây, có anh lấy mo cau làm loa, rồi họ thi nhau nêu hết ý kiến nọ đến ý kiến kia, trong nhà chúng tôi bấm nhau hồi hộp lo sợ lắng nghe, vì tất cả những ý kiến của họ đều đã được sắp đặt trước và đều là luật lệ mới của Việt Minh áp đặt trên đầu trên cổ dân làng, chẳng hạn ban đêm phải nhốt chó, phải may cờ đỏ sao vàng; cờ búa liềm, phải thay phiên đi dân công, phải tập chống càn đánh Tây... Ban ngày cán bộ đi thăm hỏi nhà này nhà nọ ra vẻ tử tế lắm, nhưng tất cả dân làng đều biết là họ đi dò xét tình hình... Có những lần bộ đội chính quy kéo vào nhà tôi cả trung đội, ở chật trong nhà ngoài sân, yêu cầu ủng hộ lúa gạo để nuôi bộ đội, chúng tôi phải đổ lúa ra xay để nấu cơm cho họ ăn, riêng tôi cũng học được của các anh bộ đội này cái trò trở cán đũa để và cơm cho hợp vệ sinh, nếu anh nào làm sai thì tất cả cùng reo lên, thế là anh ta phải chạy ra cầu ao để rửa đũa, và khi chạy trở lại thì thường là cơm đã hết, nên cả bọn lại được thể la hét trêu chọc. Tối về tôi cũng trở đầu đũa và cơm làm cả nhà trong cơn buồn lo cũng phải bật cười. Thật ra dân làng tôi cũng không xa lạ gì Việt Minh, từ những năm 1930, không chỉ đàn ông con trai có máu anh hùng, mà cả đàn bà con gái vừa đẹp vừa gan dạ, rất nhiều người tham gia mặt trận Việt Minh chống thực dân giữ nước giữ quê, thế nhưng từ khi Việt Minh trở mặt đâm sau lưng đồng chí thì đa số những người Công Giáo đã rời bỏ Việt Minh, và sau lưng nhiều người trong số họ, có sự trợ giúp động viên của thầy tôi, đôi khi thầy tôi -Dù chỉ là một ông trùm của họ đạo, nhưng được cái thế quen biết ngầm- Phải nhờ những người có thế lực dàn xếp để họ khỏi bị rắc rối với mật thám Pháp. Tới năm 1949, một số người đã lập "Tề" hợp tác với Pháp để chống lại Việt Minh mà họ cho là độc hại hơn, nhưng chỉ được một thời gian ngắn đã thất bại vì sự lơ là của người Pháp, những người dính líu với "Tề" sau đó phải trốn lên Nam Định. Hai người cậu và một người anh họ của tôi vì nghe lời dụ dỗ lừa phỉnh trở về làng, ngay buổi chiều ngày họ trở về, Viêt Minh đã tổ chức mít-tinh tiếp đón trọng thể để chào mừng họ, nhưng chính ngay đêm đó, Việt Minh đem cả ba người ra giết, người cậu thứ nhất của tôi bị bắn bốn phát, người cậu thứ hai bị lột da chân từ đầu gối xuống mắt cá chân, bò được về đến nhà mới chết, còn người anh họ thì bị chém bằng mã tấu, đầu văng xuống ao bèo, người nhà phải mò mãi mới tìm được cái đầu của người xấu số... Cho nên những ai không tham gia Việt Minh đều lo lắng sợ hãi, còn những người có vấn đề với họ sau này tôi mới hiểu ra là họ đã cao bay xa chạy từ trước.  
            
             Cuối năm 1953 thì thầy tôi vĩnh viễn ra đi vì bị bệnh "báng", có lẽ là sưng gan hay lá lách, vì thời gian trước đó thầy tôi thường lặn lội đến những miền xa xôi nên ăn uống thiếu thốn thất thường mà sinh bệnh. Không ai cho cái chết là may mắn, nhưng thầy tôi trước khi chết đã an ủi chúng tôi: "Thầy chết đi được là may đấy các con ạ! Không có thế nào chúng nó cũng đem thầy đi." Thầy tôi nói vậy có nghĩa là nếu thầy tôi sớm mất đi trên giường bệnh, thì còn được thấy mặt vợ con và còn được mai táng mồ yên mà đẹp, bằng không nhất định sẽ có một đêm Việt Minh sẽ đến lôi thầy tôi đi, thì đó là một cái chết đau đớn có khi không toàn thây.
           Ông cố tôi chỉ có hai người con trai, người anh làm thầy dậy học, người em làm nghề thầy thuốc. Có lẽ ngôi làng quá nhỏ bé nghèo nàn hoặc nhiều tranh giành ganh tỵ, nên hai anh em chia nhau người vượt bắc người xuôi nam, người em là ông lang Thành quảy gánh thuốc đi về hướng bắc. Cái thời của ông tôi, có những ông thầy lang quẩy gánh thuốc đi từ làng này sang làng khác, đi tới đâu bắt mạch cắt thuốc chữa bệnh nơi đó, hết thuốc thì ghé lại phố xá để mua thêm, có nơi thầy thuốc lưu lại hàng tuần hàng tháng, có nhiều người nhà giầu nuôi thầy thuốc trong nhà hàng năm cho tới khi thân nhân của họ khỏi hẳn bệnh. Ông lang Thành vừa là ông lang có tài, trẻ tuổi lại chưa có vợ mà lọt vào mắt xanh của một người con gái quê hương quan họ Bắc Ninh, nên ông đã dừng lại ở cái nơi thanh cảnh hữu tình đó, con cháu ông hiện nay một số định cư tại Hoa Kỳ, mộ số bên Canada. Ông nội của tôi là ông cố Hịch thì xuôi nam vào tới Bái Thượng, Thanh Hóa, lập gia đình ở đó và sinh được bốn người con, người con thứ nhất đậu linh mục, ở Bùi Chu những ai lớn tuổi ở địa phận Bùi Chu chắc còn nhớ cha già Nhã, người thứ hai làm quan tri huyện Bái Thượng, Thanh Hóa, người thứ tư là cô út tôi đã khấn trọn trong dòng kín địa phận Bùi Chu, người thứ ba là thầy tôi. Bốn anh em thì thầy tôi là người kém cỏi nhất. Trong mỗi gia đình đông con, thường một người có số hẩm hiu khác hẳn mấy người kia, nhưng vì trong thời gian anh em của thầy tôi miệt mài học hành thì thầy tôi chỉ mê mẩn học võ, thầy tôi chẳng có gì tự hào với vốn liếng võ học, tôi cả quyết như vậy vì võ nghệ của thầy tôi thuộc loại siêu mà ông không hề truyền cho anh em tôi một miếng võ nào, dù một miếng để phòng thân cũng không, và không bao giờ ông bàn đến chuyện võ nghệ. Anh tôi kể hồi năm đói Ất-dậu (1945), thầy mẹ tôi chỉ vì siêng làm nên còn có của ăn của để, năm ấy người đói ăn kéo đến nằm la liệt trên các nẻo đường, chân đê, trong các điếm, các lều chợ. Thầy mẹ tôi và người anh cả lúc đó mới mười tám tuổi cứ sáng sáng nấu cơm, nắm chim rồi bưng đi phát cho từng người, ai hấp hối thì đổ nước rửa tội cho họ, ai đã chết thì chôn cất làm phúc, cũng vì nhiều ngày làm cật lực từ sáng đến tối mịt nên người anh cả tôi bị cảm không gượng nổi mà qua đời dù mẹ tôi là người biết chút thuốc men cũng đành đau đớn mất đứa con mà bà cho là tốt nhất và ngoan ngoãn khỏe mạnh nhất. Việc làm phúc giúp người của gia đình tôi cũng làm ngứa mắt mấy tay trộm cắp trong làng, nhưng thầy tôi có người trương tuần là bạn rất thân, ông biết chuyện nên tuyên bố giữa làng rằng nếu ai cả gan động chạm đến thầy mẹ tôi thì ông sẽ cắt gân, nên trộm cắp trong làng không tay nào giám nhúc nhích. Thế nhưng cướp làng cướp xã vị nể trương tuần chứ cướp hàng tổng hàng huyện có lần đã kéo đến thì trương tuần cũng phải trốn biệt, thế mà một mình thầy tôi đánh trả bọn cướp, suốt ba đêm liền bao nhiêu đợt cướp liều chết xông vào đều bị thầy tôi đánh bại, vũ khí của thầy tôi chỉ là một cây tầm vông vừa dùng làm côn vừa làm sào để vượt qua những lũy hóp cao hàng ba mét làm thành tường rào quanh vườn. Đến ngày thứ bốn bọn cướp biết không thắng nổi thầy tôi vì thấy thầy tôi chỉ đánh dọa không ra tay sát thương mà chúng không thể vào được nhà tôi, nên giữa thanh thiên bạch nhật chúng vào xin lỗi và xin bái thầy tôi làm sư phụ, nhưng thầy tôi nhất định không chịu, chỉ đãi bọn cướp một bữa và ngồi xem bọn cướp thay nhau biểu diễn võ thuật, và bọn cướp cũng nài thầy tôi biểu diễn một vài miếng nhưng thầy tôi nhất định không chiều.
               Có lẽ ông nội tôi thấy thầy tôi giỏi võ, vả lại không có tài cán gì để tranh đua ở xứ người, nên khi thầy tôi khôn lớn thì ông nội tôi sai thầy tôi trở về quê cũ để chuộc lại miếng đất hương hỏa mà khi ra đi, ông nội tôi đã cầm cố cho người trong làng, rồi thầy tôi một mình tự tạo lập cơ nghiệp, sau đó gặp mẹ tôi là chị cả trong một gia đình có ba người con gái với một người mẹ. Thầy mẹ tôi với cuộc hôn nhân vô cùng lành thiện, đã cho ra đời mười hai đứa con. Mẹ tôi vừa là bà lang vừa là bà đỡ trong làng, những đứa con mẹ tôi sinh ra thường bà phải tự lo liệu lấy một mình. Thầy tôi không tham gia mặt trận Việt Minh, cũng chẳng đứng về phía "Tề", nhưng ngầm giúp lực lượng chống Việt Minh, cứ tối nào đó mà có người lạ ghé thăm, rủ rỉ một lát rồi bí mật lẻn đi, là sau đó thế nào thầy tôi cũng lặng lẽ ra đi có khi hàng tuần, tôi nghĩ là để liên lạc giữa các tổ chức chống Việt Minh, công việc này vô cùng khó khăn nguy hiểm mà thầy tôi không hề quản ngại, nhưng tôi nghĩ người gan dạ anh hùng hơn phải là mẹ tôi, vì đã vui lòng để thầy tôi lao vào nguy hiểm mà không hề có lời nào làm thầy tôi phải chùn bước. 
           Thầy tôi ngã bệnh sau một chuyến đi dài hàng tháng, thoạt đầu có triệu chứng khó tiêu sau đó xuất hiện môt vật cứng cỡ quả cam dưới bạ sườn, mẹ tôi mời nhiều thầy thuốc nhưng việc chữa trị không kết quả, chỉ khoảng hơn ba tháng trên giường bệnh thầy tôi không gượng nổi nữa, và vĩnh biệt mẹ con chúng tôi vào một đêm tối trời. Tôi chưa nghe ai nói có người chết bệnh mà tự phó linh hồn, thế mà thầy tôi lúc sinh thì đã kêu lớn: "Giê-su ! Con phó linh hồn trong tay Chúa!... Giê-su Ma-ri-a Giu-se xin cứu linh hồn con!" rồi thầy tôi trút linh hồn bình an. Đám táng thầy tôi không dám cờ quạt rềnh rang vì còn e sợ máy bay Pháp, không dám đãi đằng vì sợ Việt Minh, nhưng bà con làng xóm tề tập đông đủ, tôi còn ngây dại chưa nhỏ được giọt nước mắt khóc thương thầy tôi, nhưng lòng cứ hy vọng thầy tôi sẽ được đánh thức bởi những hồi trống mà sống lại. Sau đám táng người đến đọc kinh cầu nguyện cho thầy tôi kéo dài hàng tháng, đêm nào cũng lần chuỗi Mân Côi và nhiều kinh khác, nhưng đọc cách chậm rãi và buồn thảm đến nỗi tôi gần thuộc luôn kinh cầu Chịu Nạn.
             VÀO NAM. 
            Biết rằng các việc thầy tôi làm không thoát được tai mắt của Việt Minh nên trước khi qua đời, thầy tôi đã dặn các anh tôi: "Các con tìm đường mà đi, Việt Minh mà vực dậy được nó sẽ biến các con thành bày bò..." Cho nên sau khi thầy tôi được mồ yên mả đẹp, người anh trai lớn của tôi đã bị Tây bắt bỏ tù thì xin đăng lính để được tha khỏi tù, người anh thứ hai tìm đường cao bay xa chạy rồi cũng phải đăng lính, người anh thứ ba lúc đó mới mười bốn đang học ở Hà Nội, mẹ tôi một nách ba đứa con, chị tôi mới lên tám, em gái tôi mới ba tuổi và hai người chị dâu cộng đứa cháu gái mới lên hai, cái gánh quá nặng chất lên vai mẹ tôi, nhưng không lâu sau đó mẹ tôi đã bình tĩnh lại và lo toan cáng đáng mọi công việc... Cho tới ngày hiệp định Geneve, Việt Minh ăn mừng náo nhiệt bao nhiêu thì chúng tôi buồn bã lo sợ bấy nhiêu, dù còn rất nhỏ bé nhưng tôi đã cảm nghiệm được sự thay đổi khủng khiếp trong cái thôn xóm nghèo nàn bé nhỏ, tôi không bao giờ quên được hình ảnh những anh du kích mã tấu lựu đạn hằm hằm dữ tợn, còn mẹ tôi thì sợ nhất cái cảnh con trai con gái từng cặp từng cặp vừa hát vừa nhảy, cũng may các anh của tôi trước khi vào nam còn kịp nhắn tin về nhà, thế là mẹ tôi  sắp xếp cho chúng tôi di cư.
         Sau nhiều ngày mẹ tôi chuẩn bị, nào giấu tiền Đông Dương trong những đũng quần của mấy đứa nhỏ chúng tôi, nào khâu tay nải, giã muối vừng, thổi xôi, nắm cơm, và mẹ tôi dặn dò cặn kẽ hai người chi dâu của tôi phải đi những đâu, nghỉ lại ở đâu... Đêm ấy chúng tôi dậy rất sớm, đoàn người gồm hai người chị dâu, cô em gái, đứa cháu gái và tôi. Làm như dòng máu phiêu lưu sẵn có trong người vì khi tôi được sinh ra trong lúc thầy tôi xuôi ngược khắp nơi, nên tôi có cảm giác phấn chấn vô cùng mà không biết rằng chị em chúng tôi bắt đầu đi vào con đường rất nguy hiểm, chỉ sơ xuất một chút là mẹ con sẽ không còn gặp lại. Nhà tôi cách Nam Định hơn năm cây số, chúng tôi phải âm thầm lặng lẽ ra khỏi làng rồi rảo nhanh trên mặt đê cũng gần hai tiếng mới tới bến đò để sang Nam Định. Đang khi chị em chúng tôi cùng với những con buôn quang gánh thúng mủng ùn ùn vội vã xuống đò thi chợt có tiếng lanh lảnh: "Này các anh các chị ơi có người đi Nam !..." Liền có tiếng phụ họa: "Đúng rồi hai chị này đi Nam !..." Và họ nhao nhao: "Thôi các chị đi thì cứ đi nhưng phải để các em ở lại, các em là những trẻ thơ vô tội, các em không biết gì cả, hãy để các em ở lại..." Thế là chị em tôi dành líu tíu dắt nhau lên bờ. Cũng may từ làng chúng tôi lên tỉnh có hai bến đò, một bến là Tân Đệ và bến kia là bến đò Quan, tôi không nhớ chúng tôi đã gặp xui xẻo ở bến đò nào, và chúng tôi phải đi khoảng nửa tiếng nữa thì đến được bến đò thứ hai, trong khi đi hai chị tôi dặn mấy đứa tôi khi xuống đò phải tránh xa các chị, nên lúc lên đò lần này tôi dẫn đứa em gái lên phía mũi đò làm ra vẻ nghịch ngợm, hai chị tôi cũng mỗi người một nơi, thế là chúng tôi thoát được đến Nam Đinh. Từ Nam Định chúng tôi phải lên Hà Nội nhưng đường xe khách lúc đó hay bị nổ mìn, chúng tôi phải chờ ở Nam Định ba ngày mới lấy được vé ca-nô lên Hà Nội. Bốn chị em và đứa cháu lang thang lếch thếch trên đường phố Hà Nội đúng như "chim chích vào rừng", chị dâu cả của tôi lúc đó chỉ ngoài hai mươi, chị dâu thứ hai mới mười chín, cả hai hầu như chưa ra khỏi làng, sở dĩ hai chị tôi cả gan mạo hiểm vì biết tin hai anh tôi đã vào miền Nam, hai là mẹ tôi tuyệt đối trông cậy vào Chúa, trước hôm ra đi mẹ tôi căn dặn: "Các con cứ yên tâm mà đi, mẹ lần hạt cho! Đừng lo lắng gì cả, cứ vừa đi vừa cầu nguyện là Đức Mẹ sẽ dẫn đường..." Quả thật chúng tôi chỉ biết là ra được Hải Phòng thì sẽ được tàu Hoa Kỳ đón rước nhưng chẳng biết là làm cách nào !... Chị em đang lang thang lớ ngớ thì gặp một đoàn khoảng hai trăm người gồng gánh dắt dìu nhau thành một hàng dài với những nét mặt buồn bã cúi gằm giữa tiếng hò reo vang dậy: "Hoan hô...! Hoan hô...! Đồng bào ta trở về...! Hoan hô...! Hoan hô...!" Đó là những người tìm cách vào Nam nhưng bị Việt Minh tổ chức ngăn chặn mà phải trở về, việc đó làm các chị tôi càng lo sợ vì người ta biết đường biết nước mà phải hàng đoàn hàng lũ trở về huống chi chị em chúng tôi thì mò mẫn vào đâu! Nhưng  xẩm tối hôm đó, chúng tôi gặp Nhà Thờ Lớn Hà Nội, người Công Giáo mình đi lạc mà gặp nhà thờ là điềm lành, chúng tôi nằm ngay bậc thềm cửa chính mà ngủ. Đêm ấy nhiều lần công an đến "vấn an", chị tôi chỉ biết trả lời: "Chúng tôi đi tìm người nhà. " thế mà chẳng thấy họ vặn vọ gì thêm, đúng là ơn Chúa. Hôm sau đúng ngày Chúa nhật, nhà thờ cứ khoảng hơn một tiếng là một Thánh Lễ, chúng tôi ở đó nguyên ngày, tham dự các Thánh Lễ để cầu xin đi cho đi đường được bằng an. Chị tôi hỏi thăm thì người ta cho biết đường Hà Nội - Hải Phòng không có xe khách, chỉ còn cách đi bằng xích-lô, ngày hôm sau chúng tôi đón được một chiếc xích-lô, thật may mắn bác xích-lô này quá tốt bụng, bác mách nước rằng sẽ chở năm chị em tới chợ Hải Dương và chị em tôi phải ngủ đêm tại đó rồi sáng hôm sau bác sẽ trở lại chở chúng tôi đi tiếp, chúng tôi làm đúng như lời bác xích-lô chỉ và ngủ một giấc rất yên trên sạp chợ không bị ai quấy rầy. Sáng sớm hôm sau bác xích-lô đã đến như đã hẹn, trên đường bác dặn: "Tôi sẽ đưa các cô đến một chiếc cầu có lính Tây gác, nhưng tôi không được phép đến tận nơi mà sẽ để các cô ở xa xa, rồi các cô phải đi bộ đến đấy, đi qua được chiếc cầu ấy là các cô cứ an tâm không phải lo lắng gì nữa." Suốt buổi sáng hôm đó chúng tôi đi trên con đường rất phẳng rất êm, yên tĩnh mát mẻ và không hề gặp một trở ngại đe dọa nào. Và đúng như lời bác xích lô, chúng tôi đi bộ qua một chiếc cầu nhỏ, anh Tây đen một mình đứng gác giơ tay vẫy chào... Thật là bàn tay của Chúa luôn luôn nâng đỡ chở che những kẻ trông cậy nơi Người, và tôi cũng nhận ra những ơn ích của Thánh Lễ vì trọn ngày hôm trước chúng tôi đã tham dự các Thánh Lễ của ngày Chúa Nhật với ý nguyện xin "Đi đường được bình an". Và chúng tôi suốt đời không quên ơn bác xích lô quá tốt bụng, âu cũng là ơn Chúa xui khiến chúng tôi được gặp bác.
        Thành phố Kiến An, hoặc nhiều người còn gọi là tỉnh Kiến An là nơi tôi biết rất nhiêu điều mới lạ và là nơi cho tôi nhiều kỷ niệm êm đẹp khó quên dù tôi chỉ được ở đó có hơn hai tháng: Đúng ra bốn chị em và đứa cháu gái, thường như người ta thì thuê tắc xi ra Hải Phòng để ghi danh chờ được vào Nam, nhưng như mẹ tôi đã trù tính trước, chúng tôi tìm được đến nhà một người bà con, sau những năm biến động trong làng ông đi lính Pháp, lúc đó ông đã được phong cấp bậc trung sĩ, chúng tôi phải ở đây để chờ mẹ tôi và chị tôi để cùng vào Nam. Trung sĩ Pháp gọi là "ông đội" ngày đó rất oai phong thế giá, hơn nữa ông lại được ông quan tư Pháp mến mộ, nên chúng tôi đến trọ nhà ông thì liền được cung cấp lương thực tính theo đầu người y như con cái của ông đội, và ngay ngày hôm sau tôi được đi học cùng lớp với anh Tư,con trai của ông, người sau này là bạn chí thân của tôi mà tôi sẽ có nhiều chuyện để kể về anh. Trong lớp học này tôi thấy nhiều người trong các gia đình khá giả, họ ăn mặc tươm tất, nói năng chững chạc bạo dạn, họ biết kể chuyện, biết hát. Có lần cô giáo hỏi có em nào biết hát và nhiều người đứng hát rất tự nhiên khiến tôi rất phục, có anh hát một bài dù chỉ một lần mà tôi thuộc luôn đến giờ: "Kìa đàn vịt ngoi dưới ao hồ... Thằng Bờm Sờn vác que đuổi đánh... Ô! Nó kêu... Quác qua! Quác qua...!" Bài hát có nghĩa tức cười như thế mà tôi lại thích mãi nhớ mãi: Đàn vịt ngoi dưới ao hồ mà thằng Bờm Sờn lai có thể vác que đuổi đánh được ! Mà đàn vịt lại kêu quác quác như tiếng của gà! Và từ đó tôi cũng chưa nghe ai hát lại bản đó để biết mình có nghe đúng không? Tại lớp học này trong những giờ ra chơi tôi thường được các bạn đưa lên núi hái quả mỡ, trong Nam gọi là trái lạc tiên hoặc trái chùm bao, nhưng quả mỡ trên núi này khác hẳn vì mỡ đọng trên chùm bao đặc quánh như dầu ăn và quả mỡ có mùi thơm vị ngon lạ lùng, và đó cũng là những lần đầu tiên tôi nếm cảm giác lâng lâng sảng khoái của leo núi, dù trái núi rất nhỏ bé nằm xinh xắn giữa khu phố. Tại nhà ông đội, tôi được sinh hoạt với những đứa con của ông, họ thông thạo mọi nơi, biết nhiều thú vui chơi, tôi thích nhất chiếc thuyền làm bằng vỏ trái bom na-pal của họ, thích ngắm họ chèo phóng như bay trong những ruộng nước, nhưng tôi chưa được cho chèo thử lần nào. Tôi thầm ước cuộc sống thú vị như họ, vì dù cùng là người làng nhưng họ được sống trên thành phố Nam Định khá lâu trước khi chuyển về đây cùng với cuộc rút lui của quân đội Pháp.
       Khoảng hơn hai tháng thì mẹ tôi và chị gái tôi đến được với chúng tôi. Chuyến đi của mẹ tôi khó khăn vất vả hơn nhiều vì lúc đó gần hết hạn để "Người dân hai miền tự do lựa chọn nơi cư trú", nên Việt Minh tìm mọi cách ngăn cản người di cư. Sau chuyến đi trót lọt của chúng tôi, còn lại mẹ với chị gái tôi lúc đó mới mười tuổi, tai mắt Việt Minh cũng thừa biết mẹ tôi thế nào cũng ra đi nên rình mò nhòm ngó ngày đêm, nhưng mẹ tôi vẫn thản nhiên vui vẻ làm như không có chuyện gì xảy ra: nhà tôi có vườn trà rất quý, mẹ tôi chặt cả cây trà, bẻ cả chân bàn chân ghế nấu nước ủng hộ những cuộc mít-tinh hoặc những buổi liên hoan văn nghệ, vừa để che mắt họ vừa cố tình không để những thứ quý hiếm vào tay Việt Minh, việc đó dù rất nhỏ cũng thể hiện tinh thần chống Cộng rất tích cực của một bà góa trên quê hương mình. Chuyến đi của mẹ tôi lần này tưởng có thêm dì tôi là người đã từng đi buôn bán khắp nơi nên biết luồng biết lạch, nhưng lên đến Nam Định thì dì tôi bị công an giữ lại vì tình nghi là dẫn người đi Nam, dù có nghi mẹ và chị tôi nhưng chắc họ nghĩ đã bắt giữ người dẫn đường thì một bà nhà quê và một đứa trẻ nhất định sẽ phải trở về, nhưng họ không biết ý chí của một người mẹ đã có một đàn con trong miền Nam và một lũ nữa đang chờ để cùng vào Nam, song mẹ tôi cũng phải lẩn tránh tới ba ngày sau mới dám xuống ca-nô để lên Hà Nội, trên chuyến ca-nô đó bà mang theo một cái thúng trong đó mẹ tôi giấu tất cả những thứ quý giá mà không dám giữ bên người vì sợ công an để ý nên phải để ở chỗ có nhiều thúng mủng hàng hóa của lái buôn, chẳng may khi ca-nô gần bến, con buôn thu dọn hành lý nên trật ra cái thúng của mẹ tôi, bọn công an liền để ý và tra hỏi: "Cái thúng này của ai đây...? Này... Đồng bào ai có cái thúng này...?" Trong thúng chẳng có gì bất hợp pháp nhưng nếu nhận thì công an sẽ tình nghi chủ nhân cái thúng là người đi Nam cho nên mẹ tôi đành nín thinh, đúng như người ta nói: "Bỏ của chạy lấy người". Thế nhưng chính vì mất của mà mẹ tôi và chị tôi dễ dàng đi trót lọt trên đoạn đường dài đầy tai mắt công an từ Hà Nội ra Hải Phòng, vì người đi Nam thường tay xách nách mang túm năm tụm ba, cho nên công an ít để mắt đến một bà nhà quê trên tay không hề có một thứ gì với một đứa bé gái mười tuổi. Tôi hoàn toàn tin đó là bàn tay Chúa, chỉ có Người mới có thể biến cái xui xẻo thành cái may mắn mà phải suy xét mới nhận ra để mà cảm tạ đội ơn Chúa.
         Vì nóng lòng gặp lại các anh của tôi nên ngay sau ngày mẹ con chúng tôi tìm lại được nhau như một phép lạ Chúa ban, bảy người chúng tôi từ giã gia đình ông đội, thuê xe ra Hải Phòng ghi danh vào trại tạm cư để chờ ngày lên tàu. Sau hai tuần lễ ngủ nhà bạt, nằm sàn gỗ, ăn bánh mì sữa, đi tắm suối, đi bắt rươi... Với tôi đó là những ngày tuyệt vời. Khi được lên chiếc tầu "há mồm", tôi thấy nó đồ sộ vĩ đại quá sức tưởng tượng mà quên đi lời Việt Minh phao đồn là : "Địch nó lừa cho lên tàu há mồm rồi nó đổ xuống biển cho chết hết." Nhưng khi chiếc tàu há mồm cập vào chiếc tầu lớn thì nó càng làm tôi kinh ngạc vì cái thân khổng lồ của nó ước chừng phải cao lớn gấp hàng chục lần ngôi nhà thờ quê tôi, chiếc cầu thang từ tầu há mồm sang chiếc tầu lớn mãi trên cao cheo leo chót vót, những người lính thủy ăn mặc rất đẹp, đứng hàng dài dắt tay từng người, đỡ hộ từng chiếc tay nải, vác giúp từng bó đồ đạc quấn trong những chiếc chiếu... Và kể sao hết những cử chỉ cao đẹp đầy tình thương của những người lính thủy khi chúng tôi trải qua ba ngày ba đêm trên tầu, từ ăn uống, đi vệ sinh, bệnh tật, ói mửa... Họ đều kiên nhẫn chăm lo săn sóc rất tận tình chu đáo. 
          Chúng tôi đến bến Sài Gòn vào buổi sáng nắng vừa lên rực rỡ, phút đầu tiên đó Sài Gòn đã cuốn hút hồn tôi, nhưng trên đường chúng tôi di chuyển trên một chiếc xe vận tải từ bến Bạch Đằng về trại tạm cư Phú Thọ, một tay móc túi đã cắt chiếc ruột tượng của mẹ tôi lấy mất bốn ngàn tiền Đông Dương là tất cả vốn liếng dành dụm tưởng để sống tạm trong những ngày lạ nước lạ cái, khi xuống xe sờ lại cái ruột tượng mẹ tôi mới biết bị mất tiền, bốn ngàn bạc lúc đó rất lớn nhất là với mẹ tôi trong hoàn cảnh này, thế nhưng mẹ tôi không hề than van, chỉ nói nhỏ vói chị em tôi: "Thôi không sao, Chúa cất đi rồi Chúa lại cho con ạ ! " Đó là bài học rất lớn mẹ tôi đã dạy tôi, sau này trên mọi nẻo đường đời mọi sự mọi việc xui xẻo xảy ra cho tôi, tôi đều noi gương mẹ tôi mà phó thác trông cậy vào Chúa. Sau đó tìm trong túi còn được 24 đồng, mẹ tôi mua được một cái ấm nhuôm, một bộ chén, vài gói trà, một cái lò và một bó củi, ngay ngày hôm sau bà ra chợ ngồi bán nước trà, và chiều hôm đó mẹ tôi trở về với khuôn mặt rạng rỡ và mua về cho lũ con nhiều bánh trái.
        Trong thời gian tại trại tạm trú Phú Thọ, anh trai thứ hai của tôi đóng quân ở Quán Tre tìm lại được chúng tôi và dẫn tôi đi thăm người anh thứ ba lúc đó đang trong trại học sinh Phú Thọ, rồi dẫn tôi về thăm nơi đóng quân của anh ngay bên lề đường và được anh cho ăn bữa cơm lính với cá khô, con cá mặn như cục muối, ăn xong rồi uống nước căng cả bụng.
         Ở trại tạm cư Phú Thọ được hai tuần thì cha Chương đến đón chúng tôi về Cẩm Vàng, nơi cha được cấp đất để xây dựng trại định cư. Cha Chương là vị linh mục trẻ tuổi năng động, hoạt bát, giầu lòng thương người hơn nữa thầy tôi lại là người dẫn cha đi tu, cho nên khi cha kêu gọi thành lập giáo xứ thì không riêng gia đình tôi mà hầu hết người làng đều hưởng ứng, dù Cẩm Vàng nghe cái tên có vẻ huy hoàng thế nhưng xa xôi hẻo lánh mãi tận biên giới Việt-Miên, từ Sài Gòn tới đó phải đi xe đò qua thị xã Tây Ninh, rồi phải đi ca-nô cả nửa buổi nữa mới tới trại định cư Cẩm Vàng: một mảnh đất phát hoang cạnh bìa rừng với mấy dãy lán tranh đơn sơ mỏng manh chưa vách, chưa nền... Thế mà một số dân thuộc họ đạo mà cha Chương từng trông coi đã cùng với dân làng tôi bắt đầu cuộc sống mới lạ lẫm khó khăn với hai bàn tay trắng... Mà không hề có tiếng kêu ca phàn nàn, trái lại còn biết ơn Trời, biết ơn nước, biết ơn cụ Ngô, không thì chúng tôi trốn đâu cho khỏi Việt Minh ! 
         Ngay sau khi đến trại định cư Cẩm Vàng, trong khi dân làng còn uể oải thì một mình mẹ tôi đã ra đồng gặt lúa cho người Nam, chiều tối mẹ tôi đội về một bó lúa nặng chĩu hạt chín vàng với nụ cười rạng rỡ vì thấy lối làm ăn trong Nam cởi mở rộng rãi khác hẳn miền Bắc, bà kể: "Gặt hái trong này vui lắm! Sáng sớm đã phân công một người đi thổi cơm, rồi hai người đi tát cá... Thế là trưa đến nào cá nướng nào riêu cá... Ngồi một vòng ăn ngay tại giữa ruộng..." Đời mẹ tôi trải qua bao thiếu thốn đói khổ nên khi thấy cảnh no ấm đầy đủ, bà thấy mãn nguyện an tâm và luôn dâng lời cảm tạ Chúa. Còn tôi chỉ vài ngày sau khi tới trại là được đi học vì việc giáo dục là quan tâm hàng đầu của cha Chương . Trường học chỉ là một lán nhà ở ngăn đôi, bên là trạm y tế bên là lớp học, và gọi là trường nhưng chỉ vài chục học sinh chung một lớp một thầy với mấy chiếc bàn chênh vênh vẹo vọ. Hôm khai trường gồm đủ măt phụ huynh, ban tổ chức và cha Chương , tôi được chọn vào học lớp nhất với các anh rất lớn, giữa những tiếng khen của mọi người vì tôi biết đọc biết viết và biết làm toán, không phải tôi giỏi giang gì nhưng hồi đó có số nơi điều kiện học hành thiếu thốn, riêng tôi may mắn vì thầy tôi đã thấu hiểu sự cần thiết của học hành qua kinh nghiệm của chính bản thân thầy tôi chữ nghĩa thua anh kém em, nên từ rất nhỏ thầy tôi đã kèm tôi tập viết tập tô trên những miếng cát-tông, rồi cho tôi đi học rất sớm. Trường làng tôi cũng chỉ có hai phòng học, một phòng cho các lớp trên do một thầy bốn chức gọi là Cụ Bốn giảng dạy, phòng thứ hai dành cho các lớp dưới, đây là lớp vỡ lòng của tôi, phụ trách phòng này là một thầy giáo già chuyên nhai trầu và có thành tích dữ đòn là thầy Thức. Mới vào lớp nhìn thấy trong góc phòng hàng chục cái roi mây cái lớn cái nhỏ, cái cũ cái mới, cái thì toe tua, cái quấn dây thép... nội nhìn bằng đó roi tôi đã thấy phát run, mà không phải đống roi đó để mà dọa đâu! Chỉ cần không thuộc bài hoặc viết nguệch ngoạc là thầy bắt nằm sấp trên bàn rồi đọc "bản án", chẳng hạn: "Làm đổ mực ra sách, đánh năm roi." Hoặc "Lười không học bài: mười roi..."  Mà thầy đánh thật lực chứ không phải giơ cao đánh khẽ cho mà nhờ . Có lần chị tôi bị oan, cãi lại sao đó mà bị thầy quất liên tiếp mấy chục roi nhưng chị tôi nhất định không khóc làm thầy điên tiết càng đánh dữ hơn... Thế mà việc đó coi như không hề có chuyện gì xảy ra, thầy mẹ tôi không hay biết gì hết, không thì chị tôi còn bị đòn thêm. Cho thấy thời đó thầy cô giáo được kính nể tôn trọng đến mức nào! Vì thế chỉ vì sợ đòn mà tôi chăm học đến nỗi ngủ trưa cũng mơ đánh vần rang rang mà bị cả nhà trêu, mới năm tuổi đã thuộc luôn cuốn Bổn Đồng Ấu và ngay cả buổi sáng hôm đưa đám thầy tôi mà vẫn đòi đi học vì sợ bị đòn... 
           Cuộc đời tôi nếu được khởi đi từ Cẩm Vàng thì an lành biết bao thế nhưng một chuyện xảy ra làm thay đổi tất cả: Một hôm cần đinh để sửa sang chỗ ở, mẹ tôi sai cầm đồng bạc đi mua, ra đường gặp mấy thằng bạn đang chơi rượt bắt, tôi dừng lại định chơi vui chút xíu ai dè quên luôn. Con nít ham chơi là chuyện rất thường nhưng tôi lại vò nát đồng bạc trong tay nên mẹ cho là tôi có vấn đề tâm thần vì dân Bắc vào nam thoạt đầu chịu nóng không nổi mà nhiều người như muốn khùng khiến tôi cũng bị ngờ oan. Ngay lúc đó thì người anh lớn của tôi đóng quân mãi tận miền trung về thăm, anh nghe mẹ tỏ ra lo lắng về tôi nên anh đề nghị để anh đem tôi đi cùng vợ con anh, tôi đâu có hiểu gì, chỉ nghe được đi xa là khoái chí. Anh tôi về đơn vị trước, hai tuần sau tôi cùng chị dâu và đứa cháu gái bốn tuổi xin được lên tầu vận tải của quân đội cập cảng Đà Nẵng và phải ở đó chờ anh tôi đến đón, thoạt đầu chúng tôi được ở nhờ trong một trại lính nhưng không ai ngoài vài người lính Nhật, không hiểu sao số người Nhật này còn sót lại ở đó. Tôi ở đây ban ngày được hóng gió biển mát rượi và ngắm biển xanh thẳm, với những con sóng bạc đầu trên bãi cát trắng mịn đẹp vô cùng. Đó là lần đầu tiên tôi được thưởng cảnh sắc tuyệt vời của biển và trong đời tôi đã đến nhiều bãi nhiều bờ nhưng không nơi nào đẹp và có cảm giác thú vị bằng nơi đó. Tôi phải rời bỏ nơi đó đầy luyến tiếc dù đêm đêm chị dâu và tôi cùng đứa cháu gái phải ngủ chung trên một chiếc ghế bố của một người lính thương tình cho mượn thay vì ngủ dưới cát. Sau đó chị em tôi phải chuyển sang ở nhờ trong một cái nhà thương bỏ hoang vẫn còn sặc mùi thuốc nhưng không giường chiếu gì hết, ở đây chúng tôi không còn phải ngủ chung trên một chiếc ghế bố chật chội nữa mà nằm trệt dưới sàn phòng bệnh hôi hám nhơ nhớp, gối đầu bằng những gói quần áo và sợ nhất là đi ngoài trong cái nhà vệ sinh không có nước nên phân rải khắp nơi... nhiều nỗi khốn khổ nhưng cũng không được yên thân, khoảng hơn tháng sau thì học sinh một trường tiểu học gần đó tập trung biểu tình đòi lại nhà thương để làm trường học, chị em tôi chưa biết đi đâu thì vừa lúc có người thuộc đơn vị anh tôi ghé lại, chị tôi liền quyết định quá giang xe theo ông ta về Tam Kỳ nơi đơn vị anh tôi đóng quân, và chị em tôi phải vào trú trong một cái chái tranh gác tạm vào vách nhà dân, nhưng đó chính là những "Túp lều lý tưởng" của những người lính Cộng Hòa khi mới tiếp quản Miền Nam, cho tới cả nửa tháng sau anh tôi mới trên đường hành quân trở về, lúc đó chúng tôi mới biết chắc là không đến lầm nơi. 
           Gặp lại vợ con và em, mừng lắm nên ngay sau những ngày hành quân mệt mỏi anh tôi tìm mua được một cây tre, đem chẻ đôi để gác vào vách tường nhà của một người dân, làm thành cái chái che bằng pông-sô và cả gia đình bốn người chui trong đó với một chiếc chõng tre cho hai anh chị và một chiếc ghế bố cho tôi và đứa cháu gái, thế là túp lều còn một lối đi khoảng ba tấc... Như thế đã đủ để thấy nụ cười mãn nguyện trên khuôn mặt hiền lành của anh tôi bởi vì chỉ trừ trung úy đại đội trưởng là có một nơi tạm gọi được là nhà, còn cả đại đội ai cũng chái cũng lều, cũng chui rúc chật chội như nhau. Nhưng hạnh phúc không được bao lâu, vì hồi còn trong ngôi làng nhỏ bé của chúng tôi, chị dâu tôi từng được chấm là đẹp gái nhất làng, anh tôi cũng chẳng thua kém ai, nhưng khi bị Tây bắt anh tôi bị giam giữ tại nhà tù có tên là "Nhà máy chai" rồi được tuyển mộ vào lính, anh tôi phải đăng lính để khỏi bị tù, cho nên cứ mang cái "lon" binh nhì nếu không tình nguyện đăng ký để trở thành hiện dịch, nhưng anh tôi cứ mong được mãn lính để được tự do thoải mái vì cái lý lịch của anh tôi là nhập ngũ để khỏi bị tù vì tình nghi là Việt Minh thì có gì là vinh dự khi tại ngũ? Mà tôi nhớ rõ lương binh nhì lúc đó vỏn vẹn có 560 đồng cộng lương vợ chỉ khoảng gần một trăm, lương đứa con đầu trên dưới trăm nữa, thật là quá mạt và quá bất công so với lương vợ của một trung sĩ lúc đó cũng trên năm trăm, đứa con đầu lương hơn cả một binh nhì, lương đứa con thứ hai của một trung sĩ tới sáu trăm rưỡi... Cho nên chị dâu tôi ngầm so bì, nhất là sự hiện diện của tôi, chị tôi nghĩ nếu anh tôi "lanh lợi như người ta" thì khai tôi là con đầu, cháu tôi là con thứ hai thì được thêm trăm rưỡi nữa, thế nhưng anh tôi ngay thẳng thật thà mà trầy tôi ra là gánh nặng cho kinh tế gia đình anh chị, tệ hơn nữa tôi không được cấp phát gạo mà lại ăn khỏe trong khi gạo hồi đó đắt đến độ một trăm bạc chỉ mua được khoảng hai chục lon sữa bò gạt miệng, có lúc còn có mười lăm lon. Cho nên anh chị tôi vì cái miệng ăn của tôi mà lục đục cãi cọ, nhiều lần anh tôi điên tiết hất cả mân cơm... Chính vì phải sống dưới áp lực rất căng như vậy cho nên cứ sổng ra là tôi lẻn ra ngoài, lang thang trên những nẻo đường ngập cát hoặc những mảnh vườn chẳng có giống gì ngoài phi-lau và cát... Chỉ có thế mà tôi phải chịu những trận đòn có khi là rất dữ tợn nếu trong lúc anh chị tôi đang hục hặc, không thì vài cái bạt tai, may lắm là quỳ gối... Thế nhưng điều rất may mắn là ngay từ những ngày thơ ấu ấy tôi đã biết cầu nguyện, đêm đêm tôi cầu nguyện rất sốt sáng nước mắt đầm đìa, tỷ tê kêu xin Chúa cho tôi được sớm về với mẹ tôi, hoặc là cho tôi biết đường trốn về với mẹ. Rồi trong nỗi buồn khổ cô đơn đó tôi đã tìm được một người chị, chị Mong năm đó khoảng mười bốn, là con gái của một ông trung úy, mẹ chị Mong mất sớm để lại chị và một người anh trai với đôi chân khập khiễng tên là anh Hạnh, hai người có một người mẹ kế và ba đứa em cùng cha khác mẹ, chị Mong không được đi học và phải vất vả suốt ngày còn hơn người đi ở đợ, nào nấu ăn, giặt giũ, tắm rửa cho các em, dỗ các em ngủ... Chị Mong làm hết mọi việc để bà mẹ kế đó thong dong ăn diện thế nhưng bà ta vẫn không vừa ý mà lại còn tìm cách mỉa rủa hành hạ. Vì cùng hoàn cảnh nên chị Mong thương tôi vô cùng và tìm mọi cách ủi an vỗ về tôi, từ đó tôi cũng được nguôi ngoai vì suốt ngày quanh quẩn bên chị, mà vì thế cũng bớt bị đòn bởi cái tội đi lang thang.
         Ở Tam Kỳ được khoảng sáu tháng thì tôi phải chia cách người chị nuôi quý yêu vì anh tôi lại thuyên chuyển ra La Vang, doanh trại của anh tôi là Tiểu đoan 56, Trung đoàn I , Sư đoàn I đóng cách nhà thờ La Vang khoảng một cây số, gia đình tôi cũng giống nhiều gia đình binh sĩ của tiểu đoàn đến trú nhờ trong xóm đạo tọa lạc trước doanh trại, xóm đạo này cũng là dân di cư đến từ Quảng Bình, gia đình chúng tôi trọ đem theo được cả tượng Chuộc Tội, ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, vợ chồng chủ nhà có đứa con tên là Thần cũng trạc tuổi tôi, Thần được vào hội Thiếu Nhi Thánh Thể gọi là Hùng Tâm Dũng Chí. Dù chỉ cách Linh Địa La Vang có một cây số, nhưng đồng bào di cư ở đây đem theo linh mục và các dì phước để thành lập ngay được họ đạo có cả nhà thờ, trường học và các lớp Giáo Lý. Tôi cũng được vào học lớp năm (Sau này là lớp một) trong trường tiểu học của các dì phước, ở đây trong giờ ra chơi và sau buổi học tôi thường là "Con gà nòi" của mấy anh lớp nhất, đối thủ chính của tôi là thằng Kim, cũng là con của một quân nhân trong tiểu đoàn 56, chúng tôi đấu bất phân thắng bại, võ đài là những bãi cỏ rất mịn... Đây là mái trường an vui nhất thời ấu thơ của tôi với những bàn tay ân cần của các nữ tu người Quảng Bình, và cũng tại La Vang Hạ này, tôi đã diễm phúc kính viếng Đức Mẹ La Vang nhiều lần, lúc đó nhà thờ và đài Đức Mẹ cùng với giếng nước còn nguyên vẹn.
         Chỉ được mấy tháng ở La Vang Hạ, anh tôi lại được lệnh di chuyển về thành phố Quảng Trị, chỉ cách La Vang Hạ khoảng hơn ba cây số và chúng tôi tìm được chỗ tạm trú trong khu nhà tôn đối diện sân vận động Quảng Trị, khu nhà ở này có khoảng hơn một trăm căn nhà chung vách, ai đến trước thì chiếm được căn còn nguyên vẹn, anh chị tôi chọn được một căn sâu phía trong, bên trái là một ông công chức từ Hà Nội chuyển vào với hai bà vợ ở chung một nhà hay ghen tuông cãi cọ, và một lũ con chưa kể bà cả đã qua đời, bên phải là một anh công an làm việc ngoài cầu Bến Hải, tuần nào cũng chở về một xe bưu thiệp từ miền Bắc về đậu trước cửa nhà. Cách mấy căn phía ngoài đường, tôi quen với thằng Quỳnh, bố cũng là công chức chuyển từ ngoài Bắc vào, Quỳnh có anh trai tên là Oánh và hai đứa em, Mỗi khi được mẹ cho tiền Quỳnh hay mua đường cục rồi hai thằng luân phiên cắn cho tới khi hết cục đường và  thường rong ruổi với nhau khắp nơi trên thành phố Quảng Tri, lang thang trên bờ sông hoặc leo trèo hái hoa phượng... Nhưng chính tại đây tôi đã được xưng tội rước lễ lần đầu dù không hề được học hành chuẩn bị: Đó là vào khoảng cuối năm 1956, có người quen ở La Vang Hạ nhắn anh chị tôi là có khóa xưng tội rước lễ lần đầu, nếu tôi đã được học thì có thể về tham dự, anh chị tôi cứ tưởng chỉ là kinh kệ hằng ngày nên trả lời với họ là tôi đã thuộc hết rồi nên gửi tôi về tham dự, dè đâu vào tòa giải tội tôi chẳng biết làm gì nói gì, cứ quỳ đó mắt nổ đom đóm... Cũng may đó chỉ là tập dượt, sau đó cha tuyên úy gặp người đỡ đầu của tôi, cho ông biết tôi không hề biết gì, thế là tối hôm đó tôi mới được học cách xưng tội, rồi chỉ một đêm tôi đã nhẩm thuộc và hôm sau vào tòa, tôi cũng được nhận phép giải tội, hôm sau tôi được rước Chúa lần đầu, ngày trong đại đó tôi cũng chỉ lủi thủi một mình.
          Sau xưng tội Rước Lễ lần đầu, anh chị tôi lại tìm được căn nhà tốt hơn gần mặt đường do có người chuyển đi, ở đây sạch sẽ thoáng mát hơn, có thể nhìn thấy những vận động viên tập dượt đá banh trên sân vận động. Ở căn nhà này lại kế bên một người cảnh sát, ông và vợ không thấy có con, chỉ có một cô cháu gái tên Chính, cũng trạc tuổi và rất giống hoàn cảnh tôi, nhưng Chính đau khổ hơn tôi rất nhiều vì là con gái hay tủi thân tủi phận mà cậu mợ Chính luôn đánh đấm cãi cọ bởi sự có mặt của Chính. Tội nghiệp ông cảnh sát, cũng vì thương chị mà nhận nuôi giúp cháu, nhưng đã không lường trước được tính khí của bà vợ. Và từ khi có tôi bên cạnh nhà, Chính đã có phần được an ủi vì mỗi lần cậu mợ Chính đánh cãi, Chính ngồi nép mình buồn lo làm tôi thấy xót xa vô cùng, nên tôi tìm lời trêu chọc, và mỗi khi Chính nở nụ cười dù heo hắt cách mấy thì cũng làm tôi thấy vui.
          Mấy tháng sau tôi lại phải rời xa Chính để theo anh tôi chuyển về Hương Trà, các khoảng 17 cây số nên người ta gọi là Cây Số 17. Về đây anh tôi dù đồng lương rất eo hẹp cũng phải tìm thuê một chỗ trong nhà dân chung với một người bạn lính khác, anh này cũng có nuôi thêm một người em vợ cùng khoảng tuổi tôi, nhưng cô này rất vui vẻ thoải mái vì có người anh rể đại lượng và người chị gái hết lòng thương yêu bảo bọc, chúng tôi thường quấn quýt với nhau. Một lần cô và tôi cùng đứa cháu gái chơi trốn bắt, cô dẫn tôi đến một nơi thật kín để trốn đứa cháu gái, rồi bất ngờ cô cầm chặt hai tay tôi trong đôi bàn tay nóng hổi run rẩy... Lúc đó tôi ngây ngô chẳng hiểu chuyện gì cho tới khi bị cô cháu gái "phá đám", sau tôi mới hiểu và bắt đầu hứng thú với cái cảnh phụ diễn đó thì không bao giờ gặp lại cái cảnh tương tự như thế nữa, chắc cô thấy tôi khờ quá mà sinh chán. Nhưng suy đi nghĩ lại đó cũng là ơn Chúa gìn giữ tôi khỏi những dịp tội như sau này Chúa hằng gìn giữ tôi trong suốt cuộc đời. 
          Đầu năm 1957 tôi có một cái tết rất buồn: Sáng sớm mùng một tết chị tôi cho tôi ba đồng và dặn: "Tiền mừng tuổi cho trước đây nhá, không được nhận tiên của bất kỳ người nào nghe chưa!" Làm như vậy là chị tôi không muốn phải có qua có lại với người ta mà tốn kém, còn tôi vì sáng sớm quập quạng nhìn tờ một đồng lại cứ tưởng là tờ năm đồng nên hí hửng quận tròn nhét kỹ vào gấu áo, hai đồng còn lại thì xào xáo trong ba ngày tết, nhịn thèm mãi đến ngày mùng bốn tết mới khui cái tờ cất giấu trong gấu áo, lúc đó mới hỡi ơi đó chỉ là tờ một đồng! Các bạn nghĩ coi, cái tết xa nhà xa mẹ ấy của tôi buồn đến mức nào! Và tết ấy anh chị tôi cũng gặp chuyện cười ra nước mắt: trưa mùng một tết anh chị tôi chuẩn bị một bữa thịnh soạn để đãi người bạn thân của anh và bữa tiệc rất khiêm tốn về số lượng, trong khi khách chủ đang sắp sửa nhập tiệc thì có một thanh niên là người quen của chủ nhà đến thăm trong khi ông chủ nhà đi chúc tuổi đâu đó, vì tiệc rượu sẵn sàng anh chị tôi mời một tiếng để anh đi cho lẹ khỏi khách đợi, dè đâu anh vui vẻ nhận lời: "Ui chao, ngày tết mấy anh mời không lẽ từ chối...!" Thế là anh ngồi vào ăn rất khỏe và rất thật tình khiến anh chị tôi và người bạn lính phải cố ăn uống thật khiêm nhường để đãi vị khách quý.
         Ăn tết xong chúng tôi lại phải di chuyển về trại gia đình binh sĩ cách đó hơn cây số nằm cạch Quốc Lộ số 1, phía trước doanh trại Trung Đoàn Dã Chiến số 1, thuộc Sư Đoàn Bộ Binh số 1. Tại đây với bàn tay khéo léo anh tôi chỉ tốn có 80 đồng tiền tranh và tre để dựng lên được một mái nhà nhỏ đủ bốn người nhờ nối đòn tay vào một túp lều đã dựng trước, anh chị tôi vẫn cái chõng tre còn tôi và đứa cháu gái vẫn cái ghế bố, ăn uống khách khứa tất cả vẫn trên cái chõng , ngoài ra anh tôi phải trả 5 đồng tiền thuê đất hàng tháng, còn ai cất nhà cao sang hơn thì phải trả giá cao. 
           Cây Số Mười Bẩy trên đường từ Huế về Quảng Trị , nhà cửa hàng quán lèo tèo luộm thuộm nhưng cảnh trí xa xa thì tuyệt đẹp, phía Tây là những dải đồi xếp múi đến tận mái núi xanh thẳm Trường Sơn. Phía Đông là con sông xanh trong vắt, tôi được cho phép ra tắm sông mỗi ngày vì bến sông có những tảng đá rất sạch và an toàn chỉ tội dưới đáy sông lởm chởm sắt thép rất sắc nhọn, tôi đã tập và biết bơi ở bến sông này nhờ một tảng đá ngầm cách tảng đá trong bờ chừng hai mét, tôi cứ đạp chân từ tảng đá trong bờ để nhoài ra tảng đá ngầm rồi lại từ tảng đá ngầm đó ùa vào, thế mà tôi biết bơi lúc nào không biết, vì vậy có lần đứa cháu gái cũng bắt chước tôi nhưng chỉ ra được nửa đường thì chìm, cũng may tôi nhanh tri lặn xuống đẩy được cô cháu vào bờ không thì khốn, và dù tôi bị sắt ngầm cắt rất sâu dưới gan bàn chân mà không dám để ai biết. Nhưng cũng dòng sông này đã chôn vùi bóng dáng người thân duy nhất của tôi là chị Mong: Khi tôi chuyển về La Vang thì gia đình chị Mong di chuyển thẳng về Cây Số 17 này và ông trung úy đã dựng một căn nhà gần khu chợ, trên con đường dẫn ra một bến sông khác, tôi vô cùng mừng rỡ được gặp lại chị Mong nhưng chị không thể đón tôi vào nhà như hồi ở Tam Kỳ vì nhà chật chội mà ông trung úy và người dì ghẻ ở luôn tại đó... Rồi một ngày tôi thấy người ta đổ xô đi xem người chết đuối, tôi cũng len lỏi giữa đám người đó và nhìn thấy từ xa xa cái xác người chết đuối to tướng như một con trâu mộng, đó là lần đầu tiên tôi thấy người chết đuối, nhưng thật không ngờ, thật bàng hoàng kinh hãi vì người chết đuối ấy chính là chị Mong, người thân yêu của tôi ! Tôi đã không nhỏ được giọt nước mắt nào nhưng trái tim bé nhỏ của tôi đớn đau tiếc xót vô hạn, bà ghẻ của chị Mong phân phô rằng chị Mong tự trầm mình mà chết nhưng hầu như ai cũng tin rằng cái bà ghẻ đó đã giết chị Mong rồi thuê ông thợ cắt tóc vác đi phi tang vì có người quả quyết đã nghe ông thợ hớt tóc tự miệng nói ra là đã được bà dì ghẻ đó thuê tiền để đem xác chị Mong vất xuống sông... Nhiều người bàn tán đó chính là hồn oan của chị Mong nhập vào ông hớt tóc để báo oán, nhưng tôi nghĩ chị Mong chỉ làm thế để minh oan là chị không tự liều mình mà thôi vì sau đó bà dì vẫn ăn diện phây phây chẳng ai làm gì được, dù thi thể của chị Mong cũng có bác sĩ về khám nghiệm, có hiến binh lập biên bản điều tra... Nhưng theo tôi thì chị Mong có tự trầm mình mà chết hoặc bị giết chết đều quá bất công với chị Mong vì là hình ảnh của người vợ cũ của ông trung úy, cho nên chị Mong không được đi học và làm quần quật suốt ngày để săn sóc bày nhỏ lại còn bị đánh đập sỉ vả, tình cảnh đó làm ông bố phải xót thương mà ông bố càng tỏ ra xót thương con thì càng điên tiết bà ghẻ... Chị Mong của tôi đã chết thảm thương như thế mà cả những tiếng xì xào bàn tán cũng dần dần đi vào quên lãng, nhưng hình ảnh chị Mong vẫn sâu đậm trong lòng đứa em cùng cảnh khổ của chị.
          Tại Cây Số 17 này, tôi được gia nhập Đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể tại ngôi Giáo Đường của Trung Đoàn Dã Chiến Số 1. Chiếc quần Kha-ki xanh, chiếc áo sơ-mi và một chiếc khăn quàng cũng khiến anh chị tôi phải bàn đi tính lại bởi đồng lương hạn hẹp và cũng làm tôi thấy buồn khổ vì làm phiền đến anh chị. Trong Đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể này tôi được chịu Phép Thêm Sức, buổi lễ được tổ chức trọng thể, nhưng khi Đức Giám Mục bắt đầu nghi thức thì trầy tôi ra không có người đỡ đầu, may sao có một người lính đứng ra nhận giúp, nên tôi được nhận Phép Thêm Sức mà lòng còn áy náy lo âu chẳng biết như thế tôi đã được hưởng Phép Thêm Sức chưa!  Đại Hội Đức Mẹ La Vang năm 1958 tôi đã được hân hạnh tham dự, cả đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể chúng tôi được xe nhà binh chở về La Vang, cùng hàng trăm đoàn thể khác cắm lều kín hết những đồi mít chung quanh Thánh Địa, cảnh tượng ấy từ trên đồi nhìn xuống thật là ngoạn muc, và những cuộc rước kiệu trùng trùng lũ lượt với những bài ngợi khen Đức Mẹ thánh thót du dương vang vọng núi rừng làm tôi có cảm giác như ca đoàn thiên thần từ trời cùng hợp lời cao rao danh Đức Mẹ...
          Đầu năm 1959 anh tôi được mười ngày phép lấy vé xe đò đem tôi về, giờ nhà mẹ tôi chuyển về Truông Mít trên quốc lộ 22 nối quận lỵ Trảng Bàng với thị xã Tây Ninh. Mẹ tôi mừng rỡ dẫn tôi đi khoe khắp xóm và ngay buổi tối đầu tiên tôi được dự buổi đọc kinh luân phiên gia đình trong không khí đầm ấm chan chứa tình lối xóm nhất là lần đầu nghe câu: "Lạy Nữ Vương gia đình, Mẹ ở đây với chúng con, vui buồn sướng khổ, mẹ con cùng nhau chia sẻ, xa Mẹ chúng con biết cậy trông ai, đời chúng con gian nan khổ sở lắm,gia đình chúng con long đong tối ngày, nhưng có mẹ ở bên chúng con, chúng con thấy quên hết ưu phiền, vui sống qua kiếp lưu đày, mong ngày sau sung sướng cùng Mẹ muôn đời trên Thiên Đàng. Amen!" Tôi cảm nhận được chúng tôi đang trong bàn tay bảo bọc chở che của Đức Mẹ.  Người em gái giờ đã lớn khôn dù mới có ba năm xa cách, cô Út dẫn tôi đi khắp nơi, đãi tôi cóc, xoài, ổi, mận... Những thứ miền Nam này luôn sẵn có mà mãi lúc đó tôi mới được hưởng, và cô Út liền giới thiệu tôi với hai cô bạn thân hàng xóm: Hiền và Lành, cả hai cùng mồ côi cha, chúng tôi sớm trở thành những người bạn thân thiết. Rồi tôi được gia nhập đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể, vào Hội Giúp Lễ, được đi học trường tiểu học công lập, năm lớp nhất tôi được miễn thi tiểu học, đó là tấm bằng duy nhất trong đời.
        Trại định cư Cẩm Vàng vì xa xôi hẻo lánh quá nên chỉ được mấy tháng thì rã trại, cha Chương về Truông Mít này cùng một số người làng tôi cộng với dân làng Đường Lệ tỉnh Bắc Ninh và dân làng Sài Quất tỉnh Hải Dương, thành lập xứ Bắc Hiệp, đối diện với xứ Bắc Hiệp là xứ Phát Trung của dân Phát Diệm có cha Lạc làm chánh xứ, cách hai cây số về phía Trảng Bàng là xứ Châu Nam, cha Bách làm chánh xứ. Ba xứ đạo làm thành khu định cư xanh tươi trù mật dù mới chỉ thành lập được ba năm. Nhà mẹ tôi chỉ mái tranh vách đất nhưng có giàn thiên lý trổ đầy bông thơm ngát, vườn trước chung quanh trồng mía, trong vườn trồng xoài, ổi, mận, măng cầu... Quanh vườn sau trồng chuối, giữa vườn luống cải luống cà, luống ngò luống ớt... Nhìn qua đã thấy cuộc sống êm ấm hạnh phúc... Thế nhưng cuộc sống ấm no an bình đó của chúng tôi không được bền lâu, một đêm vào năm 1960 tôi nghe những tiếng bước chạy rầm rập ngoài đường lộ và những tiếng gào thét: "Đả đảo Mỹ Diệm... Đả đảo Mỹ Diệm!..." Và một đêm tối trời sau đó một số kẻ xưng là Mặt Trận đã đến vấn an cha Chương, chẳng biết hai bên trao đổi gì mà từ đó cha Chương cứ đêm đêm phải đi ngủ nhờ, nay nhà này mai nhà nọ, và cũng từ đó các anh tôi không còn dễ dàng về thăm mẹ tôi như trước nữa. Rồi đầu năm 1961, Giáo xứ Phát Trung kéo nhau ra đi trước tiên, để trơ lại đất đai ruộng vườn bao năm mồ hôi nước mắt tạo dựng, nhìn cảnh tượng đổ nát hoang tàn đó mấy ai cầm được nước mắt. Sau đó đến bà con xứ Châu Nam và cuối cùng Giáo Xứ Bắc Hiệp cũng phải rút vì chúng tôi chỉ có một tiểu đội dân vệ dù các anh rất dũng cảm nhưng chiến đấu đơn độc không có sự yểm trợ hậu thuẫn nào trừ một đôi lần Biệt Động Quân về giải cứu khi Việt Cộng vây đồn. Mẹ tôi là người cuối cùng rời bỏ mảnh đất quý yêu của người để chuyển về đồn điền cao su Bến Củi cách Truông Mít chừng ba chục cây số, còn tôi được mẹ cho về Ông Tạ cùng người anh thứ ba sống tại một căn nhà tôn nhỏ do mẹ tôi bóp chắt mua được trong Giáo xứ Nam Hòa. Tại đây tôi ghi danh vào lớp đệ thất trường trung học Đắc Lộ, còn anh tôi lúc đó đang học Chu Van An. Cuối năm thì mẹ tôi cũng rời Bến Củi về ngã tư Tân Sa Châu mua được hai túp lều trong vườn rau bên cạnh cư xá Việt Nam Thương Tín, một trong hai mái lều đó mẹ tôi tạo thành một quán cơm bình dân, bán cơm trưa cho những người thợ xây dựng cư xá Tổng Thống Phủ, quán cơm phát đạt nhờ mẹ tôi khéo nấu. Sau đó vì trưng dụng đất để xây cất hoàn thành khu cư xá, chúng tôi được chính phủ bồi hoàn cho hai căn nhà trong Khu Ngói Đỏ, cư xá Kiến Thiết, đó là bằng chứng về chính sách công bằng đại lượng của một chính phủ vì dân mà chúng tôi mãi mãi tri ân.
          LÀM DU ĐÃNG.
         Tôi học hết năm đệ thất rất xuất sắc, nhưng bắt đầu năm đệ lục, anh trai tôi gia nhập Trường Võ Bị nên tôi không còn người giám sát và tôi lại kết thân với một người bạn giỏi ăn chơi rồi cùng nó lêu lổng cúp học lang thang trong công viên, vào hồ bơi hoặc vùi đầu trong những rạp chiếu bóng rẻ tiền... Thật tội nghiệp mẹ tôi lo loay hoay với quán cơm của bà, khi biết tin tôi hư hỏng mẹ tôi vô cùng đau khổ thất vọng. Bà đành bóp bụng gửi tôi theo học nội trú tại trường Thánh Liêm xứ Bùi Môn.
       Ở nội trú thoạt đầu tôi quyết chí làm lại từ đầu nhưng chỉ được mấy tháng tôi lại gây nên nhiều chuyện rắc rối và bất bình với nhiều người rồi trốn về Sài Gòn cùng với một tay trong nhóm phá phách, tay này là Thông, dân Hố Nai. Hai thằng đi lang thang được mấy ngày thì hết tiền, một đêm ngủ trên ghế đá trước chợ Bến Thành đang bị bọn móc túi dở trò lần túi thì có người quát: "Để cho nó ngủ ! " Lúc tỉnh dậy tôi gặp một người tuổi khoảng bốn mươi, mặt sắt đen sì, có một vết thẹo trên môi như vết dao chém từ cánh mũi xuống giữa miệng, nói rặt giọng miền Bắc, tự giới thiệu là Tám Sọc-ne, có lẽ Tám Sọc-ne thấy tôi dễ thương và anh cũng thèm tình cảm gia đình sao đó nên tỏ ra rất thích tôi và dụ: "Thôi, từ nay cứ đi với anh, đứa nào động đến chúng mày thì chết ngay với tao! "  Tôi vô cùng mừng rỡ vì mới bước vào giang hồ đã gặp được sư phụ võ công thâm hậu ... Từ đó tôi được cập kè với Tám Sọc-ne suốt từ chợ Bến Thành, khu Dân Sinh, bến Bạch Đằng tới Da Kao, vườn Bờ Rô Tao Đàn, và việc đầu tiên tôi khám phá là có nhiều kẻ ăn mặc rất lịch sự nhưng ăn cắp nhanh như chớp, tất cả đều phải đóng thuế bảo kê cho Tám Sọc-ne, tay nào chậm trễ liền được nhắc nhở: "Đ. mẹ mày con ạ ! Mày không biết điều nhá!" Hoặc: "Liệu hồn không thì ăn đòn đấy con ạ!". Nơi trú ngụ chính của Tám Sọc-ne là Khu Dân-sinh, ở đây không ai dám gọi Tám Sọc-ne hoặc Tám Noir mà xưng hô kính cẩn là thầy Tám, trước đó tôi có lui tới nơi này nhưng khi đi chung với thầy Tám thì Khu Dân-sinh trở thành một thế giới khác lạ từ việc mua bán đổi chác, ăn uống, truyện trò tới chuyện cờ bạc, chích choác... Cũng lần đầu tôi chứng kiến cảnh ăn chơi nghiện ngập vì Tám Sọc-ne không ngần ngại dẫn tôi vào những xó góc để giải quyết cơn ghiền mỗi ngày ba bốn cữ, cứ mỗi lần "phê" Tám Sọc-ne phải chuẩn bị tư thế rất cẩn thận rồi tay trì cho gân máu nổi phồng lên, khi chất ma túy được bơm vào ven thì toàn thân co giật, răng cắn thật chặt, mắt trợn ngược trông dễ sợ vô cùng, lúc nguôi cơn phê Tám Sọc-ne luôn dụ tôi : "Thử một phát cho nó lên tiên em ạ, mẹ kiếp! Ở đời mà chưa biết kiểu chơi này thì chửa thành người !" Hoặc "Mày cứ thử một lần đi mà xem, học trò như chúng mày bảo đảm đi thi là thế nào cũng đậu em ạ!" Nhưng chỉ nhìn những vết sẹo thâm sì trên tay, trên chân của Tám Sọc-ne đã đủ làm tôi sợ hãi lắc đầu. Chưa hết, Tám Sọc-ne còn dẫn tôi về thăm em út tận ngã ba Chú-ía, ngã năm Chuồng chó với những mái lều lụp xụp tăm tối ẩm thấp, giường nệm hôi hám và những cô gái phấn son lòe loẹt, cho nên Tám Sọc-ne nhiều lần cám dỗ mà tôi khăng khăng chối từ. Nhưng có lần mụ chủ chứa đồng lõa vói Tám Sọc-ne tấn công tôi dữ dội: : "Khờ quá em ơi ! Lần đầu đó nheng ! nhớ đời luôn á... Chị coi có con nhỏ mới dzô dễ thương lắm cỡ tuổi em à, để chị kêu mấy đứa đi kiếm nhỏ đó cho em nheng ! " Ngoài sợ tội tôi còn sợ bị dính bệnh vì có lần tôi thấy một anh chàng đi khệnh khạng với nét mặt nhăn nhó đau đớn bởi nhiễm giang mai hột xoàn, tôi cứ sợ rơi vào cảnh đó thì không biết chui đâu cho khỏi mắc cở, tuy nhiên trong tình cảnh này tôi chưa biết ăn nói cách nào thì may thay con nhỏ mà mụ chủ chứa muốn tìm cho tôi lại biến đâu mất. Sau này tôi mới hiểu ra rằng chính thiên thần Chúa đã che chở tôi không chỉ phần xác mà cò che chở bảo vệ linh hồn tôi rất nhiều lần trong đời.  
         Càng đi lâu với Tám Sọc-ne tôi càng chán cuộc phiêu lưu "bụi đời" vì sớm nhận ra thần tượng của tôi chỉ là tay ăn hiếp, bắt nạt, cá lớn nuốt cá bé, còn Tám Sọc-ne trong thời gian dẫn tôi đi lang thang thường hỏi dò tôi xem các anh tôi có ai là lính không, tôi thật thà khai có ba người anh phục vụ trong quân đội, có lẽ ngán mấy anh tôi mà một buổi sáng sau khi cho tôi một ít tiền, Tám Sọc-ne bỏ hai đứa tôi trong vườn Tao Đàn nói là anh ta bận công chuyện, Thông và tôi xớ rớ trong vườn Tao Đàn tới trưa thì gặp Năm Hảo là tay xếp sòng khu vực này, thường ngày Hảo thấy chúng tôi đi chơi với Tám Sọc-ne nhưng không dám tò mò hỏi han, mãi lúc đó Hảo mới biết rõ chuyện và cho ý kiến là Tám Sọc-ne đã bỏ tụi tôi, tôi tin Hảo vì anh ta lớn tuổi lại kinh nghiệm bụi đời , lúc đó Thông đề nghị là về nhà Thông ở Hố Nai sẽ có chỗ ăn chỗ ở trong vườn trái cây trên rẫy, tôi lại nghĩ đến cảnh sống phiêu lưu trên nương rẫy cũng rất hay nên hai thằng lấy xe đò về Hố Nai. Nhưng nương trái cây ở Hố Nai không như tôi mơ tưởng, từ bốn giờ chiều đến tối đêm Thông không kiếm được gì ăn ngoài ngọn rau lang sống chấm nước mắm, đêm đó Thông vác về một bịch cam nhưng cam non vừa chua vừa đắng không nuốt nổi... Thế là ngày hôm sau đành bàn nhau về "đầu thú" với bố của Thông, bố Thông giận dữ ghê lắm vì tôi là thằng đầu têu mọi sự, ngay ngày hôm đó ông dẫn Thông và tôi trở về trường... Không thể tả hết nỗi đau đớn nhục nhã của mẹ tôi khi người đến bảo lãnh tôi từ khu nội trú Thánh Liêm... 
         Những năm sau này tôi mới hiểu được rằng chính Chúa đã kéo tôi ra khỏi vũng bùn nhơ nhớp và đem tôi về bình an vô sự cả linh hồn và thể xác mà tôi phải đời đời cảm tạ ngợi khen chúc tụng Chúa, nếu tôi chỉ yếu lòng thử một mũi sì-ke hoặc chiều ý Tám Sọc-ne sa vào đường dâm ô thì nhất định Tám Sọc-ne sẽ dậy tôi ăn cắp, móc túi và cũng phải đóng tiền cho anh ta mỗi ngày, hoặc huấn luyện tôi thành mặc-rô gác ổ điếm... Và đời tôi sẽ hoàn toàn hư hỏng tội lỗi, đời đời xa lạc Chúa. 
        Từ sau cái vụ động trời tôi gây ra đó, tôi không còn mơ tưởng phiêu lưu bụi đời nữa, nói thật lúc đó nếu có dòng tu nào chịu nhận, tôi có thể trở thành một thầy tu không chừng, vì tôi cũng đã thử nhờ anh tôi dẫn vào tu viện Saint Thomas xin đi tu nhưng nhìn thấy dáng cô hồn dữ tợn của tôi, một cha dòng đã chối khéo rằng không còn chỗ. Sau đó mẹ con tôi chuyển về căn nhà số 29 và 30 dãy L khu ngói đỏ cư xá Kiến Thiết vì được chính phủ bồi hoàn nhờ hai cái lều ở vườn rau ngã tư Trương Minh Giảng - Thoại Ngọc Hầu, tôi xin theo học hết lớp đệ ngũ tại Saint Thomas vì từ nhà tôi đi bộ ra trường rất gần... Tưởng rằng cuộc sống êm đẹp bình lặng sau cơn sóng gió tôi tự chuốc vào thân, nhưng không hiểu sao tôi lại mau quên chuyện cũ mà buồn chán và nổi giận khi gặp rắc rối với mấy tay cao bồi khu lò heo thường hay vô cớ kiếm chuyện, một buổi chiều tôi đi lễ nhà thờ Ba Chuông, một thằng du đãng lớn tuổi  vung chân đá trúng hạ bộ tôi ngay tại ngã ba đường giữa hàng trăm con mắt mà không ai dám can thiệp hoặc tỏ thái độ gì. Một lần khác tôi và hai đứa cháu con ông hàng xóm đi lễ nhà thờ Ba Chuông về thì Sang lò heo cùng lũ đàn em chặn tôi ngay cửa lò heo kiếm chuyện: "Ê mày! Sao hôm qua mày đánh em tao mày ?" Biết rằng có xuống nước năn nỉ chúng nó thì cũng bị đòn nên thừa lúc Sang bất ý tôi phóng một quả đấm trời giáng vào miệng Sang làm nó bật ngửa rồi mới bỏ chạy, hôm ấy về bị mẹ cằn nhằn vì đôi dép mẹ tôi mới mua cho chỉ còn lại một chiếc. Tưởng  Sang lò heo sẽ kéo đến tận nhà tôi để trả thù nhưng tôi chờ cả tháng trời cũng không thấy gì và từ đó chúng để tôi tự do đi học, đi Lễ, không đứa nào dám bén mảng quấy rầy như trước. Sau này nghĩ lại tôi cũng không hiểu tại sao tôi dám đấm Sang lò heo mà cú đấm của tôi lại mạnh đến nỗi chỉ một cú đấm đó đã đủ làm Sang lò heo và cả bọn đều khiếp sợ ? Tôi thiển nghĩ một mình tôi chắc chắn không thể làm được việc đó mà phải có thiên thần Chúa giúp.
         Năm đệ tứ tôi lại chán Saint Thomas, nhân quen Cao văn Hy là bạn từ hồi còn trong Nam Hòa rủ tôi về học trường Tinh Thần, trường này hầu hết là con binh sĩ, cha Phan phát Huồn làm giám đốc, lớp đệ tứ của tôi chỉ vỏn vẹn có 23 bạn cả nam lẫn nữ nên thân thiện như anh chị em một nhà với bao kỷ niệm vui buồn khó quên mà tôi ước mong có dịp kể lại, ở đây chỉ nói về một người thân nhất và sau này sống chết có nhau là Khôi, Khôi và tôi gắn bó vì cùng thiếu cha từ còn thủa nhỏ, chúng tôi cùng cảnh nghèo và cùng chung nhau một chiếc xe đạp cọc cạch đến trường.
           VÀO BIỆT KÍCH.
          Kỳ thi năm ấy ba thằng luôn cặp kè thì chỉ có Cao văn Hy là may mắn, còn tôi và Ninh Khôi đều đạp vỏ chuối, rồi lớp học mỗi người một nơi hiếm khi gặp mặt. Mãi đến cuối năm đệ nhị tôi mới gặp lại Khôi trông dáng rắn rỏi phong trần sau hằng năm trời vắng bóng, sau vài câu thăm hỏi Khôi hạ giọng: "Ê mày, có dám dzô nghành này không mày?" Tôi thấy có gì rất hấp dẫn trong cặp mắt đầy vẻ bí ẩn của Khôi, rồi Khôi nhỏ giọng hơn: " Công tác bí mật trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu..." Nghe đó tôi mê tít liền, Khôi tiếp: "Phải có hai sĩ quan bảo lãnh, nhưng tao đưa mày đi gặp ông này..." Chúng tôi lên Vườn Xoài găp một người khoảng ngoài 30 dáng nho nhã với cặp kiếng cận, đó là đại úy Dũng, người thay cho "hai sĩ quan bảo lãnh", ông chỉ vẫy tay gật đầu vì đang bận dẫn vợ con đi Lễ. Trên đường về, những câu kín kín hở hở của Ninh Khôi đủ làm tôi mừng rỡ vì sẽ được gia nhập ngành Biệt Kích Nhảy Bắc. 
          Ngay chiều hôm sau, Chúa Nhật 8-5-1966 tôi lại trốn mẹ tôi một lần nữa, thật là tội nghiệp, chỉ riêng cái tội làm cho mẹ tôi  lo lắng đau khổ tôi đã đáng chết nhiều lần ! Năm giờ chiều tôi có mặt tại nhà ga xe lửa chợ Bến Thành, lúc đó có nhóm người mặc thường phục, có số người mặc rằn ri Thủy Quân Lục Chiến nhưng đội nón đỏ, sau này tôi mới biết đó là mấy anh trong toán Lôi Hổ do Sở Liên Lạc gởi về học chung với chúng tôi tại Trung Tâm Huấn Luyện Quyết Thắng, và mỗi cuối tuần khóa sinh các toán Nhảy Bắc cũng như khóa sinh Lôi Hổ được xe vận tải đổ xuống đây và đón trở lại trại huấn luyện khoảng 5 giờ chiều Chúa Nhật. Tôi còn lớ rớ chưa tìm được Ninh Khôi thì một toán nhảy dù say rượu đến tấn công mấy anh Lôi Hổ, hạch tội họ mặc đồ rằn TQLC mà lại dám đội mũ đỏ và đeo bằng dù, không may cho mấy anh Nhảy Dù vì tới lúc khóa sinh các toán tập họp đông hơn, nên các anh Nhảy Dù bị một trận tơi tả ! Thật là ngày nhập ngũ của tôi chẳng có gì vui vẻ.
          Hai xe vận tải đầy chặt khóa sinh có xe hộ tống trước sau di chuyển về hướng Biên Hòa. Trên xe các anh bàn tán sôi nổi về chiến thắng của họ với các anh Lính Dù, nhưng tôi lại thấy thương mấy anh Nhảy Dù. Xe chạy rất nhanh đến ngã tư Tam Hiệp thì quẹo phải vào đường 15 đi về phía Vũng Tầu, tới ngã ba Cầu Nước Trong, xe quẹo trái vào một con đường đất đỏ song song với sân bay Tam An, đi tiếp khoảng 3 cây sồ thì đến trại Quyết Thắng. Tôi và 4 khóa sinh mới khác ghi tên ở cổng gác rồi được toán trưởng Toán T là Trần Hiếu Hòa dẫn về phòng nhận giường nệm gối mền, tôi chưa kịp sắp xếp thì một người đã chỉ mặt:
         -"Đ. má thằng nhóc con này vô đây làm mất mặt binh chủng ! ... Đ. má !... Đi chỗ khác mày... Đ. má...!"
        Vẫn biết nơi đây nhiều dân ba bứa nhưng không ngờ anh này lại khinh thường tôi quá mức như vậy, anh này tên H. , tướng cao to khỏe mạnh, có lẽ thấy tôi nhỏ con mà đối xử quá tệ ! Rồi quay đi quay lại, gặp tôi anh lại trợn mắt tức giận:
         -"Đ. má thằng này... Đ. má..."
        Chưa hết lại một anh khác tên T. dơ hai nắm đấm thủ thủ:
         -"Ê ! Bùi Tru ! Bùi Tru ! Bặc co tay đôi mảy ... Đ. má!" ( Bùi "Tru" là tiếng nhái của Bùi Chu )
        Tôi buồn ghê lắm, không ngờ mới vô nghành mà tôi lại bị đón tiếp quá tệ như thế này! Tôi ghé lại hỏi Khôi:
         -"Ê Khôi! mình phải dân Bùi Chu không mảy ?"
        Khôi biết tính tôi hay liều nên có vẻ can ngăn:
          - "Thì mình là dân Bùi Chu chứ còn gì nữa...! Ê ! coi chừng ! Chuồng cọp đấy nheng mảy... "
         Thật ra mấy anh em khác đa số đứng đắn đàng hoàng nhưng chỉ riêng hai anh này gặp tôi đâu là cứ dở trò nơi đó làm tôi buồn chán vô cùng. 
         Hôm sau 5 chàng lính mới lên gặp Ban Hai để làm hồ sơ lý lịch, thủ tục làm hồ sơ kỹ lưỡng làm tôi vừa có cảm giác được trở nên quan trọng vừa thấy ơn ớn: từ lăn dấu các ngón tay đến lấy dấu tận cả bàn chân, tìm các vết thẹo các nốt ruồi khắp cơ thể rồi phải kê khai rất chi ly lý lich cá nhân, cha mẹ, anh em... Riêng tôi vì chưa đủ 18 tuổi nên cần phải có giấy ủy quyền chấp thuận của cha mẹ, tờ giấy này tôi đã tự làm và tự ký tên tuần sau đó. Xong thủ tục hồ sơ lý lịch, 5 lính mới được toán trưởng Trần Hiếu Hòa dẫn xuống nhà kho để nhận quân trang quân dụng , chúng tôi nhận tất cả giầy, dớ, quần áo... Và mỗi người một khẩu tiểu liên Thụy Điển, nhưng riêng tôi và Kiên vì chưa đủ súng nên về tay không và ngày hôm sau 5 người mới cùng toán T đi học chiến thuật trong rừng cao xu thì mọi người đều có súng, còn tôi với Kiên mỗi người được cho cầm một con dao trông đến là nực cười. Từ đó Kiên bị gán một cái tên mới là Tư Kiên Mã Tấu và có câu vè: "Tư Kiên Mã Tấu lả lướt trong vườn cao xu."  
           Thứ Tư học chiến thuât: di hành đội hình, thám sát. Buổi chiều cả trại bị cúp nước, khóa sinh được ra ngã ba Cầu Nước Trong tắm, có xe đến chờ nhưng chỉ vài chục người đi, dù thế cũng phải có vài tiểu đội Dân Sự Chiến Đấu mai phục an ninh... Đa số anh em ra đó chỉ la cà trong quán ba, còn tôi vì là lính mới chưa quen biết nên ra suối tắm cho mát, vừa lò dò vịn thành cầu bước xuống thì H. đã dưới suối từ trước, thấy tôi H. cười sặc sụa khoái trá:
           -À thằng này... Thằng này đây rồi...! Đ. má...! Bố chờ con mãi... Đ. má ! Xuống đây ! Xuống đây ! Đ. má...! Đ. má...! Hôm nay tao cho mày uống no nước...!  Má mày...! cái loại mày làm mất mặt binh chủng...!"
           Không hiểu sao H. lại ghét tôi đến thế, nếu như tôi gây thù kết án với H. thì nói làm gì, đàng này tôi nhịn nhục H. tới ba ngày liền vì biết thân phận mình là lính mới mà tuân phục H. là dân cựu trào đàn anh ! Tôi biết nếu không khéo tôi không những phải uống no nước mà có khi H. sẽ giết tôi luôn ! Và tình thế này tôi cũng không thể lùi bước, giả như tôi quay trở lên không xuống suối tắm nữa thì tôi không còn có thể sống nổi với H. cho nên tôi sẵn sàng lao vào một mất một còn dù biết H. to khỏe và chiều cao là lợi thế ở dưới nước, và thầm nghĩ có chết cũng phải cùng chết với H. một phen. Nhưng cũng chính vì cao to nên H. khinh địch mà thất bại, trong khi H. cười ha hả đắc chí thì tôi hít một hơi thật sâu trong lúc phóng ra lao mình vào H. cho tới khi cánh tay phải của tôi lòn qua vai quặp được cổ H. tôi liền kẹp chặt như gọng kìm mà kéo H. xuống... Đòn phủ đầu bất ngờ đã làm H. không kịp xuay sở... H. đấm , thọc, huých, lên gối nhưng đều vô ích vì tôi cứ kìm chặt H. dưới nước,  khi H. đã tuyệt vọng vùng vẫy hồi lâu và uống khá nhiều nước thì xuôi tay xuôi chân không nhúc nhích cử động nữa, đó là cách cho tôi biết H. đã đầu hàng hoặc để tôi tưởng H. đã chết... Nếu ác độc thì tôi sẽ ngâm cho H. no nước thậm chí có thể giết H. luôn, nhưng tôi chỉ mừng vui vì chứng minh được cho H. là tôi không làm "mất mặt binh chủng"... Buông cổ mặc cho H. vừa sặc vừa thở dốc, tôi lặng lẽ bơi vào bờ không ngó lại... Từ đó H. rất xấu hổ vì tôi đã nhân nhượng không trả thù bắt H. uống no nước, không có ý ám hại H., nhưng tôi lại thấy thương hại mà không hề nhắc lại chuyện cũ, không hề khoe ai chuyện này để khỏi làm H. bẽ mặt. Và tôi cũng chẳng thấy ai thắc mắc tại sao H. điên cuồng mạt sát tôi mấy ngày liền như thế mà giờ thì lại đột nhiên êm re ? Những năm tháng sau này tôi đã nhận ra đó chính thiên thần Chúa luôn theo tôi để che chở gìn giữ, chính Chúa trao H. vào tay tôi.
         Chẳng lâu sau Chúa cũng đã làm cho tôi với T. tương tự như Chúa đã làm với H. : Như tôi đã kể, ngay từ lúc đầu mới gặp vì thấy tôi có dáng nhỏ thó gầy yếu, T. lúc nào cũng trêu chọc tôi cách khinh miệt lỗ mãng, lúc nào cũng dứ nắm đấm đòi thượng đài với tôi làm tôi buồn khổ vô cùng. Rồi một buổi chiều sau giờ cơm, anh em tập họp ngoài sân chuyện trò hóng mát, hứng lên T. lại lôi tôi ra làm trò giải khuây:
          -Ê Mẩy ! Đ. má pạc-co tay đôi mẩy ! Sợ hả ? Đ. má !
          T. nắm tay tôi kéo ra giữa sân trong khi tay tôi còn cầm ca nước, thật ra tôi cũng sợ bị T. làm nhục trước mặt anh em nhưng rơi vào tình cảnh này thì cũng đành phải liều, tôi cố làm vẻ bình tĩnh chậm rãi đặt ca nước rồi thong thả bước ra, chính thái độ này làm T. càng nể phục tôi sau đó. Nói thật, tôi chưa hề được học một lớp võ, cũng chưa được ai chỉ dậy miếng nào, cái thời đi học thì chỉ đùa giỡn đánh đỡ quần thảo mà không hề có bài bản, cho nên đấu với T. tôi cũng chỉ cố sao đừng để bị thua cho khỏi ế mặt, nhưng đấm qua đá lại chưa đầy một phút tôi đã thấy T. ôm bụng từ từ ngồi xuống ! Thì ra T. đã bị tôi zến trúng một bốt-sô ngay giữa bụng. Sau trận đấu nhiều người không ưa T. tỏ ra hả hê khoái chí, nhưng tôi chỉ mừng vì không bị T. hạ và không còn bị trêu chọc nham nhở nữa.
       Nhưng cây muốn lặng mà gió có muốn ngừng đâu ! Chiều hôm sau cũng sau bữa cơm chiều trong khi anh em đang cười đùa vui vẻ trước sân, T. lại kéo tôi ra:
       -Ê ! Đ. má... ! Hôm qua bồ ăn may... Đ. má...! Tao chưa phục... Đ. má... Phải đấu lại ...! Hà hà hà...
       Tôi bắt buộc phải theo T. ra giữa sân, cũng lo lo vì có thể T. nói đúng là hôm qua tôi đã ăn may, không ngờ hai thằng chỉ đấm qua đá lại một lát, T. lại ăn một bốt-sô đúng ngay chỗ hôm trước nhưng hôm nay nặng ký hơn, T. ngồi ôm bụng vã mồ hôi, lát sau mới đứng dậy:
        -Đ. má... Tao phục... Tao phục mày sát đất... Tao tuyên bố thua... Từ nay tao thề không bao giờ dám đấu với mày nữa.
        Thật ra tôi không cố tình đá T. chỉ vì trong lúc đấm đá túi bụi mà quen chân chứ không hề có ác ý, hoặc là ngón đá đó tôi đã được thừa kế của thầy tôi ngay từ lòng mẹ. Từ đó trong toán có người đã tặng tôi danh hiệu "võ sĩ".

        Trung tâm huấn luyện Quyết Thắng do thiếu tá Nguyễn Sáng làm trại trưởng có 3 đại đội Dân sự Chiến Đấu, một đại đội Thám Báo, một đại đội súng cối, một trung đội quân cảnh, một ban cố vấn Hoa Kỳ chỉ huy bởi một vị trung tá và một toán thông dịch. Cũng như tổ chức của một đơn vị cấp trung đoàn trong quân đội, TTHL Quyết Thắng có 5 ban ngành: Ban 1, Ban 2 (Ban An ninh) Ban 3 (Ban Quân số) Ban 4 (Ban Quân dụng) Ban 5 (Ban Tâm lý chiến). Ban 1 là Ban Huấn Luyện do đại úy Đang làm trưởng ban, với các môn huấn luyện: Nhảy Dù, Truyền Tin, Tình Báo, Chiến Thuật, Vũ Khí, Phá Hoại, Tiếp Nhận Hàng Không, Cứu Thương, Mưu Sinh... Các toán Khóa Sinh từ ngày lập trại được sắp xếp theo mẫu tự ABC cho đến toán của tôi là toán T, các toán đang được huấn luyện có toán N, biệt danh là toán Kern, toán P biệt danh Samson, toán R, toán S, toán T là toán tôi đang hiện diện và một toán với biệt danh là Bắc Bình, là toán Q, lúc đó đang nhảy thực tập tại Đà Lạt. Toán Kern đã được huấn luyện hơn 4 năm, một nửa là toán Kern A đã đi công tác, còn Kern B chưa đi công tác vì chưa đủ điều kiện sẵn sàng để đi công tác như thiếu nhân viên truyền tin, thiếu tin tưởng đoàn kết... Nên bị kẹt lại trại và mang luôn cái tên là toán Kẹt.
          Trần Hiếu Hòa là một toán viên của Toán Kern B được tuyển chọn làm toán trưởng Toán T . Ngoài thành tích xuất sắc trong 4 năm được huấn luyện và ý chí cương nghị, Trần Hiếu Hòa còn nhận làm việc cho Ban 5 nên anh muốn xây dựng Toán T thành một toán xuất sắc, gương mẫu, kỷ luật... Cho nên ngay từ phút đầu nhìn dáng gầy yếu của tôi Trần Hiếu Hòa đã không giấu vẻ thất vọng nhất là lại thấy H. và T. luôn chửi mắng trêu chọc tôi. Ngay hôm tôi được lãnh súng cá nhân và đi thử ngoài sân bắn, khẩu tiểu liên Thụy Điển lúc đó sao có vẻ nặng nề cồng kềnh dù chỉ nặng 4 ký 8 với 5 băng đạn. Tôi bắn băng đạn 36 viên đầu tiên, khi súng hết đạn tôi gần ngã chúi về phía trước khiến Trần Hiếu Hòa cầm rầm:
          -Mẹ kiếp...! thế này thì làm ăn chó gì nữa ? !...
         Chẳng qua là mới lần đầu chạm tới súng đạn nên chưa kinh nghiệm mà cứ nghiến răng trì chống sức giật, đến khi hết đạn mới xảy ra như vậy! Thật là mắc cở  và rầu rĩ vì tôi phục sát đất Trần Hiếu Hòa là bậc đàn anh lại có tài ăn nói duyên dáng chững chạc và giọng hát truyền cảm, tôi không muốn thấy anh thất vọng về tôi... Nhưng không lâu sau đó trong một buổi học Chiến thuật, cả Toán T chúng tôi thực tập tiến sâu trong rừng, dùng bản đồ và la bàn để xác định điểm đứng rồi từ đó đi đến một địa điểm khác. Việc này rất dễ nếu thực tập ở nơi quang trống nhưng Long Thành có những khu rừng cây thấp và nhiều bụi rậm chằng chịt rất bất tiện cho việc dùng la bàn để di hành, cho nên cả toán càng đi càng lạc vì không có cách nào xác định chính xác được điểm đứng... Rồi cố vấn Mỹ là ông Mark, ngươi từng tham gia cuộc chiến Triều Tiên, yêu cầu để ông dẫn đường nhưng sau 3 giờ đồng hồ mò mẫn mồ hôi ướt đẫm, Mark đành chịu thua dù có nhờ máy bay trợ giúp cũng không có hiệu quả vì rừng quá rậm... Toán trưởng Trần Hiếu Hòa rất giận Mark và loay hoay chưa biết đi hướng nào, chính lúc đó tôi lại nghĩ ra một cách rất đơn giản và cổ điển: vì leo trèo là nghề ruột của tôi từ hồi còn ở quê nhà cho đến thời hái phượng trên thành phố Quảng Trị và trèo me, trèo ngọc lan trên đường phố Sài Gòn, nên tôi ngỏ ý là có thể giúp rồi cởi giầy leo lên một ngọn cây và quan sát chung quanh nhưng chỉ thấy toàn cây với cây trùng trùng, duy có một hướng có vẻ quang sáng nên tôi chỉ về hướng đó, rồi tụt xuống chỉnh góc độ la bàn cùng anh em đi khoảng nửa giờ nữa rồi tôi lại cởi giầy leo lên một cây cao lần nữa, lần này tôi mừng rỡ nhận ra những ngọn cao-su xanh ngát đều đặn... Chúng tôi tiếp tục đi về hướng rừng cao-su chỉ nửa giờ nữa là tới con đường đất bao quanh đồn điền cao-su và xe do Mark gọi đã đến đón... Từ đó Trần Hiếu Hòa có thiện cảm với tôi, còn ông Mark thì tỏ ra rất nể phục tôi, bù lại trước đó có lần ông hỏi tôi bao nhiêu tuổi, tôi nói tôi 16, thì ông nói ông nghĩ tôi chỉ 14, giọng ông tỏ ra tôi còn con nít quá. Từ đó tôi được sống vui vẻ thoải mái với anh em từ toán trưởng tới toán viên, không còn bị kỳ thị quấy rầy nữa... Lúc đó tôi cứ tự đắc là mình thông minh lanh lợi nên mới được như vậy, nhưng mãi đến những năm gần đây tôi mới hiểu đó chính là bàn tay Chúa che chở bênh vực tôi vì nếu cứ lẽ thường thì làm cách nào để chứng minh cho H. biết là tôi không phải loại "Làm mất mặt binh chủng " ? Làm sao có cơ hội cho T. biết sức bật của tôi ? Và đến bao giờ tôi mới có dịp trổ tài để chinh phục Trần Hiếu Hòa ? 
          Chương trình huấn luyện cho khóa sinh gồm 5 giai đoạn :
       -Giai đoạn 1: các khóa sinh được huấn luyện cách tổng lược để khóa sinh có khái niệm từng môn học.
       -Giai đoạn 2 : Khóa sinh tự nguyện lựa chọn môn học thích hợp khả năng và sở thích.
       -Giai đoạn 3 : Khóa học nhảy dù.
       - Giai đoạn 4 : Thực tập nhảy toán.
       - Giai đoạn 5 : Phân toán, huấn luyện tổng hợp dự bị công tác.
         Toán R, toán S, toán T đều đã được tuyển mộ từ hàng tháng trước nhưng chưa đủ quân số nên phải chần chừ để được bổ xung, tôi là một trong những người mới. Dù được tuyển mộ sau nhưng Toán T chúng tôi thường được huấn luyện chung với Toán R và Toán S ở giai đoạn sơ khởi trong tháng đầu với các môn Truyền tin, Vũ khí, Phá hoại, Chiến thuật, Cứu thương... Tất cả các môn đều rất hấp dẫn lý thú ngoại trừ môn Vũ khí và Phá hoại đôi lúc cũng đối diện với nguy hiểm, chẳng hạn ngay ngày đầu đi học ném lựu đạn, chúng tôi khoảng 30 người được trung sỹ Tống dẫn xuống nhà kho lãnh một số lựu đan MK3 là loại lựu đạn dùng để thực tập, trọng lượng và hình dáng giống MK2 nhưng sơn màu xám lợt, loại này khi được rút chốt ném đi nó sẽ nổ như một trái pháo sau 5 giây, thực tập với loại lựu đạn này học viên sẽ quen thao tác trước khi dùng lựu đạn thật. Hai két MK3 được vác lên xe, một số anh lấy mấy trái cầm chơi, khi tất cả anh em đã đứng chật khoang xe để chuẩn bị ra bãi tập thì nghe một tiếng nổ và khói mù mịt, phản ứng nhanh của hầu hết anh em là phóng khỏi xe... Kết quả là nhiều anh bị xây xát, nhiều người bị trật chân trật tay vì xe đậu bên mương nước, chỉ còn mình tôi không kịp nhảy khỏi xe. Thì ra có một anh đã rút chốt một trái MK3 và thay vì giữ chặt mỏ vịt thì anh lại buông lỏng, trái lựu đạn bị kích nổ rồi mà anh không biết lại cứ cầm trên tay cho đến khi trái lựu đạn phát nổ làm anh phỏng nguyên cánh tay còn anh em thì bị một trận thất đảm kinh hồn, thật là tức chết mà vẫn phải cười ! Cũng may chứ nếu là một trái MK2 hoặc một trái M26 thì cả chuyến xe đó không ai có thể nhảy khỏi xe mà sẽ cùng nổ tung. Đúng ra như ở một đơn vị khác anh chàng gây tai nạn sẽ bị phạt rất nặng, nhưng ở đây anh ta chỉ nhăn răng cười trừ !  Cho thấy chúng tôi là loại mà người ta phải chiều chuộng để được việc, nhưng học về súng đạn mà vô kỷ luật thì cũng dễ chết... Nhân chuyện này tôi nhớ năm 1962 hồi còn ở với người anh trai trong xứ Nam Hòa và đang học trường Đắc Lộ, Quốc Khánh 26-10 năm ấy tôi đi xem triển lãm trước Tòa Đô Sảnh Sài Gòn, trong lúc đứng quan sát trước cửa một chiếc H34 thì một tên nằm vùng đứng sát ngay trước mặt tôi, với tay bỏ một trái lựu đạn giữa sàn máy bay, thay vì ngoái đầu bỏ chạy như nhiều người, không hiểu tại sao tôi có thể bình tĩnh nằm xuống không thì nạn nhân đầu tiên phải là tôi vì nhiều người bị thương ngã đè lên tôi và người tôi bê bết máu đến nỗi bị người ta kéo lên xe vì tưởng tôi cũng bị thương. Có lẽ vì kinh nghiệm lần ấy nên lần này tôi bình tĩnh không nhảy khỏi xe mà không bị xây xát gì. Sau này chúng tôi còn nhiều lần gặp nguy hiểm vì tính vô kỷ luật của một vài người... Một hôm Toán T của chúng tôi học phá hoại chung với các Toán P, Toán R và Toán S, số học viên có tới hai chục người, lớp phá hoại bên ngoài trại, có mái che và có bàn học, bên cạnh một kho chứa thuốc nổ và dụng cụ phá hoại, thường thì mỗi dều có một chuyên đề, chẳng hạn: phá cầu, phá bê tông, mìn bẫy, mìn sát thương... Lần đó chúng tôi học về mìn chống xe tăng, như thường lệ chúng tôi có khoảng một giờ đầu để học lý thuyết, phần thực hành sau đó chúng tôi nhồi C4 vào một cái niềng xe tải rất lớn, nhiều anh tinh nghịch còn chèn thêm sắt vụn, rồi chúng tôi khoét một lỗ ở giữa trái mìn và chôn ngòi nổ vào đó, ngòi nổ được nối với một sợi dây điện dài hàng trăm mét... Chúng tôi dự tính sẽ đem đăt trái mìn này dưới gầm của một trong những chiếc xe và máy bay phế thải trong bìa rừng rồi ròng sợi dây điện ra xa, sau đó mới nối hai đầu dây với "mỏ vịt" kích hỏa và mọi người phải ở trong vị trí và khoảng cách an toàn, lúc đó mới được bóp "mỏ vịt" cho trái mìn nổ... Thế nhưng trong lúc mọi người bất ý thì một ông "điếc không sợ súng" đã nối hai đầu dây của trái mìn với một trong những mỏ vịt... Lúc đó huấn luyện viên Tống chợt nhìn thấy, ông ta liền hét lên: "Chết chết chết..." Nhưng đã quá muộn: ông "điếc không sợ súng" bóp liên tiếp hai phát trước sự sững sờ của huấn luyện viên và các học viên... Các bạn thử nghĩ coi nếu trái mìn đó nổ thỉ thảm họa ấy khủng khiếp biết chừng nào? Nhưng trái mìn đã không nổ không phải vì trục trặc kỹ thuật mà xem lại thì ra trong 6 cái "mỏ vịt" kích nổ có một cái bị hư... Một lần khác học phá xe, dụng cụ chỉ là một hộp nhựa cỡ gấp đôi bao thuốc lá chứa chất nổ C4 có gắn 4 cục nam châm 4 góc và có lỗ để gắn ngòi trì hoãn. Muốn phá chiếc xe nào thì chỉ cân gắn trái mìn đó vào gầm bình xăng, bóp ngòi trì hoãn rồi bỏ đi... Cũng như mọi khi, sau khi học lý thuyết, chúng tôi thực hành bằng cách lấy một chiếc thùng sắt đổ xăng cỡ lưng thùng, rồi cha con kéo nhau đem đặt thùng xăng ngoài bìa rừng, sau đó gắn trái mìn vào bình xăng... Định rằng sau khi gắn trái mìn vào bình xăng lúc đó mới bóp ngòi trì hoãn thì anh em có thời gian 5 phút, 10 phút hoặc 15 phút... Để tìm chỗ ẩn núp, nào ngờ khi sờ đến chiếc ngòi nổ trì hoãn của trái mìn thì huấn luyện viên Tống mới phát hiện ra có ai đó đã bóp ngòi không biết từ lúc nào...! Lúc đó huấn luyện viên Tống chỉ kịp la thất thanh "CHẠY.......!" Cả thầy lẫn trò chạy bò lăn bò càng... Ngay sau đó là tiếng nổ dữ dội, lửa khói mù mịt...  
         Một tháng thuộc Giai Đoạn 1, cả toán cùng được huấn luyện cách tổng lược hầu hết các môn để mọi toán viên có khái niệm từng môn học, và trong Giai Đoạn 2 là giai đoạn học chuyên môn, mỗi toán viên được phép lựa chọn 2 môn. Toán T chúng tôi có 25 người, trừ 5 người học Truyền Tin thì chỉ học một môn mới đủ thời gian, số anh em còn lại đa số chọn môn Tình Báo và môn Phá Hoại vì 2 môn này có vẻ hiển hách hơn. Tôi chọn môn Y tá và môn Vũ khí. Môn Y tá do một bác sỹ Mỹ trực tiếp giảng dạy, một y tá người Việt phụ tá và một thông dịch viên. Nói là khóa học Y Tá cho oai nhưng thật ra là khóa Cứu Thương vì chúng tôi được huấn luyện để cấp cứu trong trường hợp toán có người bị nạn khi đi công tác trên đất địch, cho nên chương trình huấn luyện đôi khi đòi hỏi phải chuyên cần chẳng hạn cách cầm máu, lau rửa vết thương, cách băng bó khi xương bị gẫy, khâu vá những vết rách... Bác sĩ Kent là một bác sĩ cần mẫn yêu nghề, ông thấy tôi siêng học nên rất thích và tận tình chỉ dạy, ngày hoặc đêm bất cứ lúc nào có bệnh nhân cần cấp cứu là ông liền cho người gọi để chỉ thêm cho tôi, tôi nhớ một đêm có một anh lính quá giang xe đò trên Quốc Lộ 15 , khi nhảy xuống thì chiếc nhẫn cưới của anh vướng vào một chỗ gờ của thành xe làm lột luôn cả bộ da của ngón tay nhẫn và vật anh ta ngã xuống đường làm toác nguyên một miếng da đầu bằng gần cả bàn tay, thế mà chiếc xe đò đã không ngừng lại để cứu giúp có thể vì không biết hoặc biết mà sợ quá không dám ngừng, mãi nửa đêm xe tuần tiễu mới thấy anh nằm ngất bên đường và chở về trạm xá. Chỉ sơ xuất chút xíu mà xảy chuyện lớn như vây! Khi đến nơi tôi giúp ông bác sỹ rửa tất cả các vết thương cho khỏi đất cát bằng xà bông nước, và cuối cùng bác sỹ Kent hỏi thử tôi: 
          - Bây giờ ông làm ơn chữa cho bệnh nhân đi !
          Tôi lại tưởng ông nói thật nên luýnh quýnh một lát mới thật thà trả lời:
          - Tôi chịu ! Không chữa được ! 
          Lúc đó bác sĩ Kent cũng phì cười :
         -Tôi cũng đầu hàng ! 
         Thì ra bác sĩ Kent đã gọi máy bay để sẽ chuyển bệnh nhân đi nhà thương ngay khi nhìn thấy tình trạng nguy kịch của bệnh nhân. Thế đó! không chỉ học hỏi bác sỹ Kent về băng bó, tôi còn học được của ông tính cần cù, nhẫn nại, vui vẻ khôi hài.
         Môn Vũ Khí , toán T chỉ có tôi và 2 người nữa trong đó cũng có Thịnh, chúng tôi học chung với một số người của toán R và toán S , số học viên của cả khóa được khoảng 10 người . Khóa học do trung úy Hoan làm trưởng ban, trung sỹ Thủy và trung sỹ Tống phụ tá. Trương trình học tập gồm trên 40 vũ khí các loại từ súng trường Bá đỏ, Mas 36... Cho tới Ba-zô-ca, SKZ chống tăng, súng cối 81, 61... Là những loại cổ lỗ sĩ với ý định chúng tôi có thể chiếm và xử dụng được khi có căn cứ trên đất địch. Học được mấy buổi thì một vài anh chán bỏ sang lớp Phá hoại, còn lại mấy mống cứ mỗi sáng ngồi trong lớp học tháo ráp lau chùi súng đạn cho đến gần trưa mới ra bãi tập bắn. Trong các loại súng chúng tôi được học thì loại súng trường có ống nhắm là được học nhiều giờ nhất và cũng hứng thú nhất, tuy nhiên bắn nhiều đến nỗi hai vai bầm tím, miệng đắng, mắt mờ, thì cũng phát ngán cho nên nhiều lúc bãi tập chỉ còn lại trung sĩ Tống hoặc trung sĩ Thủy ngồi ráp đạn để chỉ mình tôi bắn cho hết đạn vì đạn đã lãnh ra bao nhiêu phải bắn hết bấy nhiêu không được trả về, mà tôi thì ngược lại vì mơ ước có ngày trở thành thiện xạ nên có bao nhiêu đạn tôi cũng bắn hết không biết mệt... Cuối cùng tôi đã xử dụng nhuần nhuyễn nhiều loại súng từ lúc cầm khẩu súng lóng ngóng rồi biết kềm cho mũi súng khỏi di động cho đền bóp cò mà nòng súng không nhúc nhích... Cũng mất nhiều thời gian và tốn rất nhiều đạn mới rút được kinh nghiệm.
          Giai đoạn 3 là khóa học Nhảy Dù, khóa dù này là Khóa 9 Đặc Biệt, dành cho tất cả toán viên của toán R, S, T và một số sĩ quan cũng được học ké kể cả một vị chuẩn tướng, tất cả khoảng 50 người. Huấn luyện viên gồm trung úy Hùng, trung úy Kinh, trung sĩ Tuyển , trung sĩ Bốn, 2 cố vấn Mỹ và 2 thông dịch viên.
         Nhảy Dù là môn mồ hôi nước mắt, ngày đấu tiên khóa sinh phải chạy từ ngã ba Cầu Nước Trong về tới sân cờ để thử sức khỏe, anh nào không chạy nổi thì coi như "nghỉ cho khỏe" . Sáng hôm sau 52 khóa sinh tập họp tại sân dù, lúc đó mới chính thức khai mạc khóa học. Các huấn luyện viên hằng ngày thân thiện vui vẻ, hôm nay đổi tính đổi nết mặt lạnh như tiền, việc đầu tiên là họ yêu cầu các sĩ quan hãy tháo ga-lông, sau đó là hàng chục điều vê nội quy bãi tập.
         Chương trình tập huấn gồm 3 tuần dưới đất, một tuần thực tập và 4 "sô" dù để lấy bằng dù có tiền lương, thêm 1 "sô" để được nhận bằng dù Quân Đội Hoa Kỳ và 1 "sô" nhảy cây, "sô" này chỉ dân Nhảy Bắc chúng tôi được học để có thể nhảy xuống những vùng núi cây cao hoặc rừng già.
         Ba tuần dưới đất chỉ là tập ngã tập té để khi đáp xuống khỏi lọi giò, nào tập té phía trước, tập té phía sau, té phải té trái... Nhưng các huấn luyện viên chú trọng rèn luyện thể lực cho khóa sinh cho nên họ tìm mọi cách để ép chúng tôi chạy, nhảy, hít đất, thụt dầu... Và từ chuyện lớn chuyện nhỏ cứ hở ra là phạt, một ngươi làm lỗi là phạt cả nhóm, cũng may khóa học chia thành ba nhóm, nhưng một nhóm gần 20 người không anh này thì anh khác, khó mà giữ khỏi phạm luật vì thế cứ hết chạy lại hít đât, hết hít đất lại quay qua thụt dầu. Trong toán T của tôi lại có vài anh cứ thích nhìn mấy "sĩ quan bụng bự" chạy để cười cho đã nên lâu lâu lại cố tình phạm lỗi để vừa chạy vừa giỡn với nhau! 
        Hết ba tuần dưới đất thì quả thật là khóa sinh nào cũng chững chạc, đôi chân cúng cáp khỏe mạnh... Lúc đó chúng tôi mới được học đến cái dù vào tuần thứ tư, đầu tiên là được quan sát chiếc dù T7 tự động, là loại dù được gắn liền với một dây cáp trên khoang máy bay để khi nhảy ra là dù tự mở, dù này có 28 múi dù, với bộ đai để khoác sau lưng với bốn dây chằng qua hai vai, hai háng mà gắn vào một khóa mở nhanh ở ngực. Nhưng dù T7 có bộ đai thô kệch và thân dù nông nên khi nhảy ra khỏi máy bay dù dễ lật, dễ cụp dù, nên chúng tôi chỉ học để biết chứ không xử dụng. Sau đó chúng tôi được cho xem chiếc dù T10 tự động, dù này có tới 32 múi, thân dù sâu hơn và có bộ đai mỏng, mềm và nhẹ hơn, nhưng chúng tôi chỉ được xem để so sánh với chiếc dù chúng tôi sẽ được dùng, đó là chiếc dù "T10 biến chế", dù này giống hệt dù T10 nhưng có 2 cửa thoát gió phía sau để khi dù mở sẽ tạo một luồng phản lực đẩy chiếc dù về phía trước và người xử dụng có thể lái chiếc dù theo hướng phải bằng cách kéo sợi bên phải để khép cửa thoát gió bên phảỉ thì cửa thoát gió bên trái sẽ đẩy dù quay hướng phải. Ngược lại muốn lái dù về hướng trái thì chỉ việc kéo sợi dây bên trái để khép cửa bên trái. Dù T.10 được biến chế kiểu này rất tiện lợi và an toàn. Chúng tôi còn được cho biết mỗi chiếc dù giá trên 500 đô-la và chỉ xử dụng 100 lần là phải hủy bỏ, còn nếu một chiếc dù đã chế tạo được 10 năm thì cho dù không dùng lần nào cũng phải hủy bỏ. Dù còn phải được cất giữ trong phòng lạnh, sau mỗi lần xử dụng, dù phải được làm sạch và phơi khô trong "tháp dù" rồi được gấp bởi những nhân viên có bằng chuyên môn, vì thế mỗi chiếc dù đều có một cuốn sổ có ghi số chiếc dù, hãng sản xuất, ngày chế tạo, số lần xử dụng, tên và số hiệu của người gấp dù mỗi lần gấp, có nghĩa là người gấp dù phải chịu trách nhiệm nếu có sai sót. Kho dù của TTHL Quyết Thắng có toán chuyên viên từ Sư Đoàn Dù biệt phái về để lo việc gấp và bảo quản dù.
             Sau đó chúng tôi được cho măc thử những bộ đồ mặc để nhảy xuống cây, gọi là đồ "King-kong", bộ đồ này được thiết kế đăc biệt, có giáp cao-xu để bảo vệ cơ thể khỏi thương tích khi dù rơi trúng những cây to cao, bộ đồ có đai, khoen và có hai túi lớn mỗi túi đựng một cuộn dây dài 50 mét dùng vào việc đu xuống trong trường hợp dù bị mắc cây. Sau đó là phần thực tập xuông cây bằng cách mặc bộ áo King-kong rồi leo lên tháp dây "kinh dị" và tụt xuống bằng sợi dây dù nối với hai chiếc khoen ngang thắt lưng, nói thì đơn giản nhưng khi thực hành cũng căng thẳng hồi hộp nên học viên khóa tôi có người bị phỏng tay, người bị sụn lưng.
             Hai ngày cuối của tuần thứ tư, cả khóa 52 người được về thực tập tại sân tập của Sư Đoàn Dù, trại Hoàng Hoa Thám. Có hai môn để thực tập, đó là nhảy "chuồng cu" và đu dây "tử thần". "Chuồng cu" là cái tháp cao 12 mét, trên cùng là một phòng có cửa giống cửa máy bay, ở đó khóa sinh thực tập tư thế nhảy khỏi máy bay. Mỗi lần thực tập, khóa sinh mặc bộ đai dù, phía trước có dù bụng (giả) phía sau có dây móc vào một dây cáp nối từ của chuồng cu với một cột tháp xa cả trăm mét, khóa sinh khi nhảy khỏi chuồng cu phải nhớ 6 động tác: mắt phải mở, chân chụm, tay khép chặt nách, bàn tay phải cầm vào khóa mở dù bụng và miệng phải đếm lớn tiếng: "ba trăm ba mốt, ba trăm ba hai, ba trăm ba ba, ba trăm ba bốn" rồi ngẩng lên làm động tác như kiểm soát xem dù có mở hay không. Phải tập như thế bởi loại dù tự động này thường nhảy ở độ cao 400 mét, với vận tốc rơi 50 mét/giây, nếu dù không mở thì người lính dù chỉ có 8 giây là đã xuống đến đất mà tan xương nát thịt, cho nên phải hết sức bình tĩnh bằng cách đếm 4 giây (331, 332, 333, 334) để sau 4 giây đó mà dù lưng không mở thì phải mở dù bụng ngay mới sống sót. Nhưng trong những lần nhẩy tập, khó có ai thực hiện đủ các động tác mà huấn luyện viên yêu cầu, đa số chỉ làm được 4 động tác, có người thay vì đếm thì la ầm lên, có người nhắm tịt mắt, có người giang cả hai tay hai chân, có người chùn bước không nhảy nổi... Nhảy "chuồng cu" cũng là nơi được chấm điểm để biết khóa sinh nào xuất sắc và giải thưởng đã thuộc về Phạm Viết Phúc, một khóa sinh truyền tin. Còn dây "tử thần" là sợi cáp dài khoảng hơn 100 mét nối giữa một trụ cao và một trụ thấp, khóa sinh phải đu dây "tử thần" như tình trạng dù đáp xuống đất, tới điểm nào đó huấn luyện viên sẽ phất cờ thì khóa sinh sẽ buông tay để rớt xuống đất và phải té đúng thế để khỏi bị lọi giò, đúng như khi người nhảy dù khi đáp xuống đất cũng phải thao tác như vậy để bảo vệ đôi chân và thân thể.
          Tuần thứ năm là tuần nhảy dù thực sự từ máy bay với độ cao 400 mét, chúng tôi sẽ được nhảy tất cả 6 sô, 4 sô để lấy bằng dù Việt Nam, 1 sô nhẩy cây để nhảy xuống rừng và thêm 1 sô để được cấp bằng dù Mỹ.  TTHL Quyết Thắng có một sân bay, đường băng khoảng hơn 1000 mét nằm song song với con đường từ ngả ba Cầu Nước Trong dẫn vào cổng trại, giữa con đường và sân băng là một sân cỏ dài, chính nơi đây là bãi nhảy. Sô nhảy đầu tiên của chúng tôi vào sáng thứ hai, từ 8 giờ sáng khóa sinh được tập họp thành 4 nhóm tại nhà dù cạnh phi trường, từng người lần lượt nhận dù và được dặn dò đủ điều, chẳng hạn phải kiểm soát dù xem có bị sộc sệch, bị bung, bị lỏng... Rồi mỗi người tự khoác bộ dù hơn hai chục ký lên người và tự cài khóa đóng chốt, sau đó mới đến lượt huấn luyện viên kiểm soát từng người rồi từng nhóm xếp hàng lên máy bay. Thay vì dùng C47 là loại máy bay mà Sư Đoàn Dù hồi đó thường dùng, máy bay chúng tôi nhảy là loại C123, loại này có đuôi cao không sợ bị mắc dù vào đuôi như đã có lần một khóa sinh của một khóa dù trước đó đã bị vướng dù vào đuôi một chiếc C47, máy bay phải bay lòng vòng cho tới gần hết nhiên liệu mới cắt được dù khỏi đuôi máy bay và người khóa sinh đó đã kịp mở dù bụng và đáp xuống an toàn. Vì  đây là sô đầu tiên nên huấn luyện viên căn dặn và kiểm soát rất kỹ trong khi cả nhóm 13 người xếp hàng trước cửa máy bay, nhất là việc phải móc dây croir vào sợi cáp trên thân máy bay, (dây croir là sợi dây dù rất chắc, dài khoảng 3 mét, sẽ cởi các gút làm mở chiếc dù và sợi dây vướng lại trên máy bay) nếu không bạn sẽ rơi rất nhanh xuống đất. Thế mà đã có một khóa sinh trong một khóa trươc đó đã quên không móc dây croir vào dây cáp, nhưng may sao anh ta lại mở được dù bụng nhờ phản ứng tự nhiên vì chính anh cũng không hiểu tại sao dù bụng của anh lại mở ! Sô nhảy đầu tiên của tôi lại phải nhảy cửa hông mà theo một số anh em đã từng nhảy thì dễ sợ hơn cửa đuôi, mà loay hoay thế nào tôi lại bị đứng đầu. Khi đèn đỏ chớp nháy, tôi được lệnh bước đến bên cửa khom lưng sẵn sàng chờ đèn xanh là "go" không được một giây chậm trễ... Gió ngoài cửa máy bay mạnh đến nỗi như có bàn chân ai đó đang đạp mạnh vào những ngón tay và vào hai mũi giày của tôi, nếm cảm giác này tôi mới biết mấy người làm phim diễn cảnh người bám thân máy bay trên không là chuyện bịa đặt, thậm chí còn có cảnh bò trườn hoặc chạy trên cánh máy bay mới tài !  
          Năm sô kế tiếp tôi đều bị đứng đầu là vị trí ai cũng ớn, nhưng sau này tôi mới biết là đứng đầu có nhiều lợi thế, thứ nhất là được ngắm nhìn quang cảnh phía dưới rất ngoạn mục, thứ hai là được nhảy với tư thế sẵn sàng hai tay hai bên cửa và chân đặt tại gờ cửa máy bay cho nên không lo bị trượt té và không lo việc làm trì hoãn những người khác. Còn sô nhảy cây chỉ dành riêng cho bọn biệt kích chúng tôi và dù phải mặc bộ đồ Kinh-kong nhưng lại nhảy xuống rừng cao xu nên dù có trùm lên cây cao-xu mà người vẫn rơi xuống đất vì cao-xu không cao đủ cao để tập xuống dây.
          Buổi lễ trao bằng dù trọng thể, chúng tôi được gắn huy hiệu và trao bằng dù Việt Nam rồi các cố vấn Hoa Kỳ cũng trịnh trọng gắn huy hiệu bằng dù của họ, do đó chúng tôi được đeo hai bên ngực hai bằng dù. Tiếp theo lễ trao bằng là một bữa tiệc xả giàng và nhất là một tuần nghỉ phép.
           Phải vòng vo để các bạn tin tôi thực sự là một biệt kích nhảy bắc, điều đáng nói là tôi đã hoàn toàn thay đổi từ một học sinh nghèo hèn thân cô thế cô thành một người có "thế lực" nhờ cái giao kèo tôi đã ký : "Đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì", vì thế tôi được ưu đãi tối đa, thật ra đó là cách chiều người để được việc: mỗi cuối tuần chúng tôi được nhận một giấy phép, chỉ một tờ giấy phép trông đơn giản nhưng bên góc trái có ghi chú " Bộ TTL, NKT" hàng chữ viết tắt có nghĩa người cầm tờ giấy phép này là "Nhân viên của Nha Kỹ Thuật, trực thuộc Bộ Tổng Tư Lệnh", thường nhân viên công lực ai cũng hiểu mà xử sự "đúng mức", ngoài ra chúng tôi còn được dằn túi một số điện thoại phòng khi gặp chuyện rắc rối... Đặc quyền đặc lợi như vậy, nếu một người biết tự trọng và ý thức trách nhiệm thì sẽ nhờ đó mà nhận ra trọng trách cao cả với quê hương dân tộc, nhưng không được như vậy mà ham chơi ham vui, đua đòi nên tôi đã quên "mất gốc" bố tôi là ông trùm họ đạo, mẹ tôi quê mùa chỉ biết kinh hạt, các anh tôi là những chiến sĩ mẫn cảm, các bác, cô, chú tôi người nữ tu người linh mục... Mà tôi đã trở thành tay ăn chơi liều lĩnh, ngang tàng, ỷ quyền ỷ thế và kết bạn với những tay trộm cướp giết người...
         ĂN CƯỚP.
             Một lần về phép, sau một đêm la cà các quán các ba cho đến 3 giờ sáng, giờ mà thiên hạ say giấc nhất để cho các tay trộm cướp dễ hoành hành, 2 tay trộm chuyên nghiệp và một thằng mới vô nghề là tôi, "đề ba" từ đường Thoại Ngọc Hầu tắt qua xứ Tân Chí Linh sang Kiến Thiết, riêng tôi vì được giao cho cầm một chiếc kìm cắt sắt cỡ rất lớn nên phải khoác một chiếc jacket đê che phủ, chiếc kìm này dân ăn trộm gọi là chiêc "cúp" , "cúp" càng lớn thì khi cắt ổ khóa, chốt cửa, rào thép... càng êm, càng bớt gây tiếng động, thế nhưng nếu cảnh sát mà tóm được tên trộm nào cầm cái "cúp" này thì hết đường chối cãi và ngồi tù mọt gông... Nhưng tôi vì "điếc không sợ súng" nên cứ tỉnh bơ xách đi ngời ngời... Vừa sang đến khu Ngói Đỏ cư xá Kiến Thiết, ngay dãy nhà thứ hai là dãy L và chính kế bên 2 căn nhà cũ của mẹ tôi, căn nhà này chủ nhà cũng là người quen của tôi nhưng họ đã sửa sang lại để cho người Mỹ thuê, phía trước nhà được xây balcon và quây kín bằng lưới thép chắc chắn, trong đó một chiếc Honda nằm giữa ánh sáng đèn trên tường chiếu xuống. khi nhận ra chiếc xe, tôi và một người kia tìm chỗ kín núp, người còn lại nhận chiếc "cúp" từ tay tôi, tiến về chỗ chiếc xe và lẹ làng cắt từng cọng thép... chỉ chưa đầy 5 phút tôi đã thấy anh dắt chiếc xe ra rồi rút xâu chìa khóa trong túi quần nhét vào ổ khóa và chiếc xe liền nổ máy... Thoạt đầu tôi cứ ngỡ chủ chiếc xe quên chìa khóa trong ổ, nhưng sau tôi mới biết về chùm chìa khóa của những tay ăn trộm xe hạng siêu này chỉ có 3 chìa, thế mà xe nào họ cũng mở được hết kể cả khóa cổ, nhưng xâu chìa khóa này mà công an khám thấy trong người thì đi tù mút chỉ, thế nên khi đã đến nước cùng thì bọn họ phải tìm mọi cách phi tang cho bằng được... Khi chiếc xe đã nổ máy thì coi như bọn tôi đã hoàn thành phi vụ, ba thằng ngồi trên chiếc xe được chạy rất êm ả nhuần nhuyễn để thiên hạ không thể nghi ngờ đây là chiếc xe mới ăn trộm. Chạy tới một nơi nào đó, họ tháo gỡ vài bộ phận làm cho chiếc xe trông khác đi để dẫu chủ cũ của chiếc xe có gặp lại nó cũng không nhận ra chiếc xe của mình.
            Thế là cuộc đời tôi đã thay đổi ! Tôi đã là thành viên của một băng trộm chuyên nghiệp, đi ăn chơi la cà các quán các ba, bàn chuyện ăn trộm bằng tiếng lóng... Nhưng chính Chúa đã kéo tôi ra khỏi vũng bùn nhơ ấy một cách kỳ diệu mà cho tới những năm sau này tôi mới hiểu để cảm tạ Chúa: Chiếc xe Honda 90 Sport ấy thay vì đem bán lấy 20 ngàn chia nhau thì được giao cho tôi vì tôi còn 10 ngày phép. Thật đắc ý, tôi vừa có xe chạy vừa muốn tập dượt để cũng có thể lạng lách lả lướt như bọn trộm xe, ai ngờ đi đú đởn với thằng Thanh nhảy dù Ngã tư Bảy Hiền và thằng Mahomet Súc Cống Bà Xếp, hai thằng này là những tay tổ lõi đời biết tôi non nớt mới vào nghề liền gạt tôi lấy chiếc xe biến mất... Khi gặp lại anh em trong băng trộm xe, thay vì giận dữ rủ tụi nó cùng đi kiếm Thanh nhảy dù và Mahomet Súc để hỏi tội thì tôi lại tỉnh bơ như không có gì xảy ra vì nghĩ là "của thiên trả địa", vả lại kiếm một chiếc khác nào có khó gì đâu... Nhưng băng trộm xe lại nghĩ chính tôi là thủ phạm bán chiếc xe chia chác với Thanh nhảy dù và Mahomet Súc, cho nên có thằng đã thử dò tôi: "Ê mày, phải mang "séng" (súng) về hỏi tội bọn nó chứ?" Không hiểu sao lúc đó tôi lại sợ phải dính líu đến một vụ lôi thôi lớn nữa nên đáp: "Thôi mày, chuyện đó để tao lo." Chính câu nói này làm bọn nó quả quyết tôi là thủ phạm dối gạt, nhưng không dám làm gì tôi vì biết đứa nào dám đụng tới tôi tức là đụng độ với anh em biệt kích Toán T. Từ đó băng trộm không dám rủ tôi đi làm ăn với chúng nữa... Sau này tôi mới biết là ơn Chúa, Người lại ra tay cứu vớt tôi khỏi vũng lầy vô cùng nhơ nhớp, và anh em trong Toán T cũng như gia đình tôi không hề ai biết là tôi đã làm chuyện điên rồ tồi bại như vậy. Thật cảm tạ ơn Chúa!
          Cuộc đời tôi quá nhiều đau khổ song cũng có lúc huy hoàng. Khoảng tháng 10 năm 1966, Toán T được đi nhảy thực tập Đà Lạt.
         
          
 
        
                                                                                                                                 
            
          
         
              
             
          
          
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Có người cho rằng bánh rượu trong PHÉP THÁNH THỂ chỉ là biểu tượng; nghi thức bẻ bánh chỉ để tưởng nhớ đến Chúa Ky-tô. Cũng có người cho rằng ăn bánh uống rượu đó dù sao cũng được on Chúa.
Thủa xưa cha ông chúng ta ngỡ rằng Thiên Chúa chỉ tạo dựng mặt đất với mặt trời, mặt trăng và các vì tinh tú gắn vào nền trời, mà Thiên Chúa đã được tôn thờ là Đấng vô cùng cao trọng quyền phép, nhưng nhờ khoa học đã khám phá ra cả một vũ trụ bao la vô cùng vô tận hàng tỷ tỷ tinh tú, và những sự sắp xếp kỳ diệu trong việc tạo dưng mọi vật mọi loài, chúng ta mới nhận ra Thiên Chúa là Đấng cao trọng, tài năng quyền phép muôn muôn trùng trùng.
Thủa xưa cha ông chúng ta ngỡ rằng Thiên Chúa chỉ tạo dựng mặt đất với mặt trời, mặt trăng và các vì tinh tú gắn vào nền trời, mà Thiên Chúa đã được tôn thờ là Đấng vô cùng cao trọng quyền phép, nhưng nhờ khoa học đã khám phá ra cả một vũ trụ bao la vô cùng vô tận hàng tỷ tỷ tinh tú, và những sự sắp xếp kỳ diệu trong việc tạo dưng mọi vật mọi loài, chúng ta mới nhận ra Thiên Chúa là Đấng cao trọng, tài năng quyền phép muôn muôn trùng trùng.
Lời Chúa Giesu Kyto được ghi chép quá ít so với các loại sách vở nhưng đã chất chứa đầy đủ mọi lý lẽ khôn ngoan đủ dể cứu độ nhân loại. Phúc Âm Chúa cũng nói rất ít về Đức Mẹ, nhưng chỉ một số đoạn ngắn mà chúng ta có thể tìm thấy tất cả các bằng chứng về các nhân đức của Người. Những công phúc đó đã tạo nên vô vàn công phúc để Đức Mẹ được Chúa thưởng dịa vị cao trọng nhất dưới ngai Thiên Chúa
Lời Chúa Giesu Kyto được ghi chép quá ít so với các loại sách vở nhưng đã chất chứa đầy đủ mọi lý lẽ khôn ngoan đủ dể cứu độ nhân loại. Phúc Âm Chúa cũng nói rất ít về Đức Mẹ, nhưng chỉ một số đoạn ngắn mà chúng ta có thể tìm thấy tất cả các bằng chứng về các nhân đức của Người. Những công phúc đó đã tạo nên vô vàn công phúc để Đức Mẹ được Chúa thưởng dịa vị cao trọng nhất dưới ngai Thiên Chúa
Lòng kính mến Đức Mẹ đã có từ thời Chúa Giê-su còn rao giảng: khi nhận ra Chú cao trọng quyền năng, người ta kính mến ngưỡng mộ vị sinh thành ra Người: "Phúc thay dạ đã cưu mang Người, phúc thay vú đã cho Người bú mớm."
Có người cho rằng bánh rượu trong PHÉP THÁNH THỂ chỉ là biểu tượng; nghi thức bẻ bánh chỉ để tưởng nhớ đến Chúa Ky-tô. Cũng có người cho rằng ăn bánh uống rượu đó dù sao cũng được on Chúa.
Có người cho rằng bánh rượu trong PHÉP THÁNH THỂ chỉ là biểu tượng; nghi thức bẻ bánh chỉ để tưởng nhớ đến Chúa Ky-tô. Cũng có người cho rằng ăn bánh uống rượu đó dù sao cũng được on Chúa.
Nhiều người đọc Phúc Âm thấy những câu xem ra khó hiểu, sai sót, nghịch lý, mâu thuẫn..., nên không tin đó là Lời Chúa, không tin Chúa Giê-su là Thiên Chúa. Cũng có người tin Phúc Âm, tin Chúa Giê-su là Thiên Chúa nhưng cho là tại "Tam sao thất bản", hoặc tại phong tục tập quán của người Do-thái khác lạ... . Thật ra những từ, những câu, những đoạn có vẻ khó hiểu, lẩm cẩm lại là những điều cốt lõi quan trọng. Ở đây chỉ xem xét những câu khó hiểu nhất mà chưa từng được giải thích hoặc giải thích chưa thỏa đáng.
Phải hiểu Kinh Thánh mới biết Kinh Thánh vô cùng khoa hoc, mà chỉ được Thiên Chúa soi sáng mới hiểu được Kinh Thánh: Ga 6, 45: "Xưa có lời chép trong sách các ngôn sứ: Hết thảy mọi người phải được Thiên Chúa dạy dỗ. Vậy phàm ai nghe và đón nhận giáo huấn của Cha, thì sẽ đến với Ta"