13- MARIA MẸ THIÊN CHÚA

06 Tháng Hai 201612:30 CH(Xem: 3812)
13- MARIA MẸ THIÊN CHÚA

                                                             
                                                  

                                        13- HÃY KÍNH MẾN CẬY TRÔNG ĐỨC MẸ.

                     1-KHÔNG CÓ ĐỨC MẸ NHÂN LOẠI KHÔNG ĐƯỢC CỨU CHUỘC. 
               Thiên Chúa là Người Cha vô cùng tốt lành nhân hậu, Vương Quốc của Người càng vinh quang thái hòa, Người càng muốn có nhiều con cái để chung hưởng hạnh phúc với Người. Nhưng Thiên Chúa thống trị toàn thể vũ trụ, nên vì phép công bằng, Người không thể sinh chúng ta là thiên thần mà phải tạo dựng con người. Và trước khi tạo dựng con người thì Thiên Chúa đã tạo dựng những định luật rất công thẳng , để con người được tự quyền lựa chọn giữa thiện ác tốt xấu. Ai làm lành lánh dữ là lập được công phúc thì tùy nhiều ít mà được thưởng lên hàng thần thánh, còn kẻ tham lam gian ác thì rơi vào thành phần ma quỷ.
          Nhưng con người tội lỗi chồng chất từ đời này đến đời khác, đến nỗi không ai có thể tự lập công mà vào được Nước Chúa, cho nên chỉ có Đấng ở ngôi vị Thiên Chúa, và đúng lý đúng luật: Đấng ấy phải LÀM NGƯỜI vì những định luật của Chúa chỉ thực hành với con người, Đấng ấy mới có thể lập công trạng lớn lao đủ để cứu chuộc cả nhân loại.
          Thiên Chúa tuyệt đỉnh thánh thiện cao trọng, nên chỉ một người nữ cực trinh cực sạch không hề vương nhiễm tội lỗi và vẹn toàn mọi nhân đức mới xứng đáng mang thai và sinh hạ Đấng ở Ngôi Vị Thiên Chúa. Lời tiên tri: "Này đây một trinh nữ sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-el, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta." là một ĐIỀU KIỆN nằm trong Định Luật "Có mới được cho": Nhân loại phải có một NGƯỜI NỮ VẸN TOÀN MỌI NHÂN ĐỨC thì Thiên Chúa mới có thể cho Con Chúa xuống thế làm người. 
          Cho nên chưa kể những ơn lộc Đức Mẹ tuôn đổ tràn đầy thế gian, nhân loại đã phải đời đời ghi nhớ công ơn và tôn kính ngợi khen Đức Nữ Ma-ri-a. Vì thế gian không đời nào, không thời nào, không bao giờ còn ai khác , duy chỉ Đức Mẹ mới đủ tư cách , đủ điều kiện để mang thai, sinh hạ và LÀM MẸ ĐẤNG TỐI CAO. Đấng ấy mới cứu vớt được chúng ta khỏi tội lỗi mà đưa chúng về cõi sống muôn đời.
                 
            2-ĐỨC MARIA VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI.
          A-đam chính là mỗi người đàn ông, E-và là mỗi người đàn bà, bất cứ ai sinh con cái, cháu, chắt... cũng trở thành tổ tông. Còn việc ăn trái cấm là bất tuân luật Chúa, là hành động bất chính, là tội lỗi: "Có phải các ngươi đã ăn trái mà Ta đã cấm các ngươi không được ăn không ?" Và tội bị di truyền: "Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa giòng giống mi và giòng giống người ấy, giòng giống ấy sẽ đánh vào đầu mi và mi sẽ cắn gót nó." Cho nên cuộc sống mỗi người chúng ta có thể kiểm nghiệm cách khoa học thực tế là: Mầm mống tội lỗi bị di truyền qua máu thịt, qua thần kinh, qua trí não, qua linh hồn cha mẹ gắn bó liên kết với linh hồn con cái, và tội còn bị lan truyền bởi những gương mù gương xấu, mắt thấy tai nghe... Bởi vậy con người sinh ra là bị lệ thuộc cha mẹ, giòng giống và tha nhân mà kẻ ít người nhiều đều tham lam tiền tài, ham hố danh vọng, đam mê sắc dục... Mà phải giằng co vật lộn giữa thiện ác, tốt xấu...
           Còn Đức Nữ Maria được sinh ra từ một giòng dõi kính mến Chúa, trinh khiết , thánh thiện, nhân đức... Nên phúc đức di truyền mà đúc kết từ đời này sang đời khác, cho tới thời thân phụ thân mẫu của Đức Nữ Ma-ri-a là thánh Gio-an Kim và thánh nữ An-na là các bậc tột cùng thánh thiện tinh tuyền. Đức Nữ Ma-ri-a được thừa hưởng di sản đó mà đồng trinh trong trắng, vẹn tuyền mọi nhân đức. Và theo Định Luật "Có mới được cho" : Sự CÓ dư dật tràn đầy của Đức Nữ Ma-ri-a được Thiên Chúa CHO đặc ân lớn lao của Người là tuyệt nhiên không hề lây nhiễm vương vấn một thói tật nào của con người, từ khi Đức Nữ được thụ thai tới thời Người được nuôi dưỡng, và sống thanh sạch tinh tuyền không vương tội lỗi suốt cả đời: Đó là VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI.
          ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI có nghĩa rằng: ĐỨC MẸ TRỌN ĐỜI TRINH SẠCH VẸN TOÀN KHÔNG VƯƠNG NHIỄM TỘI TRẦN. Như thế Đức Mẹ mới xứng đáng được mang thai mà sinh hạ Chúa Cứu Thế là Chúa cả trời đất.
          Chúng ta được Chúa sinh ra trên cõi đời này , Người muốn chúng ta lập công để được hưởng phúc đời đời trên Nước Trời. Công phúc của chúng ta dù được nhân lên gấp trăm ngàn nhờ TIN CẬY vào công nghiệp Chúa Giê-su Ky-tô , nhưng phải đền trả cho những tội lỗi của chúng ta, một phần phải bù đắp cho những sung túc hoan lạc ở đời. 
            Đức Nữ Ma-ri-a là ĐẤNG VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI nên từng bước đi, từng sự lao nhọc, từng nỗi khó khăn lo lắng, từng đau đớn nát lòng khi người ta đánh đập Chúa nhừ tử, đau đớn ê chề khi người ta lên án tử hình Chúa, đau khổ rã rời khi theo chân Chúa vác thâp giá lên đồi Gôn-gô-tha, đau khổ tận cùng của việc chứng kiến quân hung ác đóng đanh chân tay Chúa vào thập giá. đau khổ nát ruột khi đứng nhìn Chúa quằn quại suốt ba giờ bị treo trên thập giá, đau thương chết ngất khi chứng kiến Chúa trút hơi thở cuối cùng, rồi khi Chúa bị lưỡi đòng đâm vào ngực thì dù lúc đó Chúa chẳng còn biết đau nhưng trái tim Đức Mẹ bị chính lưỡi đòng ấy đâm thâu qua, đau đớn tái tê khi Đức Mẹ ôm thân xác con lạnh giá tan nát... Những ai làm cha mẹ mới thấu cảm giác đau đớn gấp nhiều lần khi thấy con mình đau khổ, thì sẽ cảm thông nỗi đau của Đức Mẹ. Cho nên chỉ một trong những nỗi đau thương khốn khổ ấy, Đức Mẹ cũng tràn đầy CÔNG PHÚC để đền bù cứu giúp cả thế gian.
             3- ĐỨC MẸ LÀ MẸ THIÊN CHÚA.
           Chúa Giê-su là Thiên Chúa thánh thiện siêu việt cao trọng, làm một với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Thánh Thần, nên Đức Mẹ phải thanh sạch trong trắng trọn đời không vương tội lỗi và vẹn toàn mọi nhân đức mới xứng đáng làm MẸ THIÊN CHÚA.
          Giáo Hội đã tuyên phong thiên chức Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa và cử hành đại lễ mừng kính Đức Mẹ vào ngày một tháng Giêng hàng năm. Nhờ lòng sùng kính cậy trông Đức Mẹ mà Giáo Hội được ơn nhận biết chức vị cao trọng đó của Người. Chức vị đó không chỉ có từ khi Giáo Hội nhận biết và tôn phong, mà đã nằm trong kế hoạch của Thiên Chúa: "Này đây một trinh nữ sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Êm-ma-nu-el, nghĩa là THIÊN CHÚA Ở CÙNG CHÚNG TA." Và ngay khi Đức Nữ Ma-ri-a nhận lời sứ thần Ga-bri-el để chịu thai, thì Người đã chính thức là MẸ THIÊN CHÚA.
          Chúa Giê-su là Đấng Vô Tội, cho nên tất cả sự nghèo hèn lao nhọc suốt cả đời và cuộc tử nạn vô cùng đau đớn nhục nhã của Người đã tạo nên công nghiệp vô cùng cao trọng trước mặt Đức Chúa Cha, và chức vị của Chúa Giê-su là Thiên Chúa nên công nghiệp của Người được nhân lên muôn muôn ngàn ngàn, mà có thể đền bù tội lỗi cho cả nhân loại.
          Cũng vậy, Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội mà cùng Chúa chịu vô vàn đau khổ nên CÔNG NGHIỆP của Đức Mẹ vô cùng cao cả và cũng được nhân lên muôn muôn trùng trùng nhờ chức vị Mẹ Thiên Chúa, nên Đức Mẹ có quyến thế trên trời dưới đất trên tất cả các thiên thần và các thánh. Chúng ta kính mến cậy trông Đức Mẹ thì được Người tuôn đổ ơn lộc vô vàn vô tận cả phần hồn lẫn phần xác từ công nghiệp của MẸ THIÊN CHÚA. Vì thế kinh Kính Mừng có lời nguyện: "Thánh Maria ĐỨC MẸ CHÚA TRỜI cầu cho chúng tôi..." Là nhân danh Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa và cậy nhờ công nghiệp cao cả của Mẹ Thiên Chúa để xin Người cứu giúp độ trì.  
                   
           4- ĐỨC MẸ HẰNG CỨU GIÚP.

          Ga 2, 1-11: "Ngày thứ ba, có tiệc cưới tại Ca-na, xứ Ga-li-lê-a. Và có Mẹ Chúa Giê-su ở đó. Chúa Giê-su và các môn đệ Người cũng được mời dự tiệc cưới. Và vì thiếu rượu, Mẹ Chúa Giê-su nói với Người: "Họ hết rượu rồi." Chúa Giê-su nói với Mẹ: "Hỡi Bà, tôi với Bà có can chi đâu, giờ tôi chưa đến." Mẹ Người nói với những kẻ giúp việc ở đó rằng: "Hễ Người bảo gì thì hãy làm theo." Ở đó có sáu chum đá, dùng vào việc thanh tẩy của người Do-thái, mỗi chum đựng được hai hoặc ba thùng nước. Chúa Giê-su bảo họ: "Hãy đổ nước đầy các chum." Họ đổ đầy tới miệng. Và Chúa Giê-su bảo họ: "Bây giờ hãy múc đem cho người quản tiệc" và họ đã đem đi. Khi người quản tiệc nếm thử nước đã hóa thành rượu, ông không biết từ đâu ra, nhưng những người giúp việc đã múc nước thì biết, ông mới gọi tân lang mà nói: "Ai cũng đem rượu ngon ra trước, khi khách ngà ngà thì mới đem rượu xoàng hơn. Còn ông, ông lại giữ rượu ngon tới giờ này." Chúa Giê-su làm phép lạ đầu tiên này tại Ca-na xứ Ga-li-lê-a, và đã tỏ vinh quang Người và các môn đệ Người đã tin Người."
          Trước tiên ta thấy lòng thương người của Đức Mẹ đã để mắt đến việc người ta thiếu rượu vì chắc chắn Đức Mẹ không uống rượu, và nếu chúng ta để ý việc Đức Mẹ đến nói với Chúa một câu rất lạ lùng: "Họ hết rượu rôi", làm như Chúa chịu trách nhiệm về việc người ta hết rượu, và như Chúa có cả một kho rượu ngay bên cạnh Người vậy. Nhưng câu này cho chúng ta thấy Đức Mẹ biết tường tận về Chúa Giê-su con yêu dấu của Mẹ, cho thấy Đức Mẹ là người trong cuộc, là người chung phần chung vốn với Chúa, Đức Mẹ biết Chúa có quyền năng trong mọi sự mọi việc thì mới có câu nói quá tự nhiên như vậy. 
          Ngược lại Chúa Giê-su là Thiên Chúa thông biết mọi sự, Người biết Mẹ của Người sẽ lập công nghiệp vô cùng cao cả mà có quyền năng thần thế trên trời dưới đất, cả thế gian sẽ được hưởng nhờ công nghiệp của Mẹ. Cho nên "Bà" là từ ngữ xưng hô của vị Vua cả trời đất với Đấng có quyền thế trên muôn vàn thần thánh, Đấng có thể dùng thế lực của mình mà can thiệp vào mọi sự mọi việc trên trời dưới đất. 
          Rồi chúng ta lại thấy lạ lùng thêm nữa là sau khi Chúa đã nói: "Hỡi Bà, tôi với Bà có can chi đâu, giờ tôi chưa đến." Thế mà Đức Mẹ lại bảo những người giúp việc: "Hễ Người bảo gì thì hãy làm theo": Có nghĩa rằng chẳng những Đức Mẹ biết Chúa có thể làm được những viêc cả thể lạ lùng, mà còn biết chắc chắn Chúa không chối từ Đức Mẹ điều gì, dù kế hoạch của Chúa Giê-su chưa đến lúc cần cho thiên hạ thấy quyền năng của Chúa. Cho nên chúng ta không lấy làm lạ khi Đức Mẹ đã được Thiên Chúa thưởng quyền năng trên trời dưới đất thì Đức Mẹ luôn ra tay cứu giúp mọi người trong mọi nơi mọi lúc, chẳng những kẻ kêu cầu Mẹ mà cả những ai chưa kịp kêu xin, như trường hợp tại tiệc cưới Ca-na này.
          Chúng ta còn thấy Chúa Giê-su xưng "Bà" với Đức Mẹ khi bị treo trên thập giá: Ga 19, 26-27: "Khi thấy Mẹ và bên cạnh có môn đệ Người yêu, Chúa Giê-su thưa cùng Mẹ rằng: "Hỡi Bà, này là con Bà." Rồi Người lại nói với môn đệ: "Này là Mẹ con." Và từ giờ đó môn đệ lãnh nhận bà về nhà mình.":
           Chúa Giê-su biết rằng những đau thương Đức Mẹ đang gánh chịu, những lo âu khốn khó suốt cuộc đời cộng với những nhân đức cao vời của Đức Mẹ, sẽ trở thành công nghiệp vô cùng lớn lao, công nghiệp lớn lao ấy được nhân lên gấp trăm gấp ngàn nhờ công nghiệp Chúa Giê-su Ky-tô, và lại được nhân lên ngàn vạn lần bởi chức vị MẸ THIÊN CHÚA, nên Đức Mẹ được Thiên Chúa thưởng công mà có thần thế: Cả thần thánh trên trời đều kính bái ngưỡng mộ và vâng phục Đức Mẹ, cả hỏa ngục nghe danh Ma-ri-a đều khiếp hãi run sợ. Cho nên Chúa Giê-su vì thương mà trao phó cả nhân loại cho Đức Mẹ, để nhân loại được hưởng nhờ công đức của Người. Vậy câu "Hỡi Bà, đây là con Bà" hàm ý rằng: Hỡi Bà, đây là đàn con còn ở dưới thế đang cần nương nhờ công nghiệp của Bà, xin Bà bênh vực chở che, dìu dắt dậy bảo." Thế thì "Bà" là từ ngữ để xưng hô giữa Vua trời đất với Đấng thánh quyền thế trên hết các thiên thần và các thánh dưới ngai Thiên Chúa. Và Chúa Giê-su chỉ dùng cách xưng hô đó trong sự kiện trọng đại là TRAO PHÓ CẢ NHÂN LOẠI CHO ĐỨC MẸ, còn nếu chỉ đơn giản là trối Đức Mẹ cho thánh Gio-an bảo dưỡng săn sóc thì Chúa Giê-su chỉ dùng chữ Mẹ.
           Rồi từ sau lời trối trăn của Chúa, Đức Mẹ hằng dạy dỗ, ủi an, khuyên nhủ các tông đồ trong những ngày đầu xây dựng Giáo Hội, cho tới khi Đức Mẹ được Chúa rước cả hồn lẫn xác về trời và thưởng công bội hậu, mà có uy quyền thần thế dưới ngai Thiên Chúa, thì Đức Mẹ luôn dùng công nghiêp của Người để ban phát cứu giúp không những tất cả những ai kêu cầu Người mà cả cộng đoàn, giáo xứ, địa phận, vùng miền, đất nước, Giáo Hội và toàn thế giới trong mọi cơn gian nan khốn khó. Tuy nhiên, vì Định Luật "Có mới được cho" của Thiên Chúa, là chúng ta phải CÓ công phúc thì Đức Mẹ mới được phép CHO, mới được quyền ban ơn. Cho nên trước những tai ương khốn khó sắp xảy ra bất cứ nơi nào trong thiên hạ, thì Đức Mẹ thường hiện ra khuyên dạy người ta xám hối ăn năn, đền bù phạt tạ Trái Tim Chúa Giê-su và Trái Tim Đức Mẹ, lần chuỗi Mân Côi... Để tạo nên công phúc thì Đức Mẹ mới có quyền can thiệp là bênh vực, chở che, cứu chữa gấp ngàn vạn công phúc của chúng ta tạo ra, như chúng ta đã nhìn thấy rất rõ.
            5- NGUỒN ƠN ĐỨC MẸ BAN CHO CHÚNG TA.
          Mỗi khi gặp khó khăn thiếu thốn phần xác, chúng ta chạy đến kêu xin Đức Mẹ bầu cử chở che, đều nhanh chóng được cứu giúp hơn là chạy đến cùng Chúa, bởi Chúa ứng xử với chúng ta mang tính của người cha: Yêu thương, người cha nghiêm khắc với con cái hơn, vì với định luật của Chúa thì sự khó khăn thiếu thốn, đau khổ ở đời này sẽ trở thành công trạng, thành phần thưởng đời sau, cho nên trong Tin Mừng chúng ta thấy Chúa Giê-su đã chữa lành người mù kẻ què, cho người phong cùi được sạch, cho kẻ chết sống lại... Nhưng Người không cho ai của gì vật gì, ngoại trừ hai lần hóa bánh cho người ta ăn trong lúc đói, thậm chí có người kia nhờ Chúa can thiệp để người anh chia gia tài, mà Chúa đã đáp cách khiển trách: "Này anh kia, ai đã đặt Ta là người xử kiện hay người chia gia tài cho các ngươi?"
         Còn Đức Mẹ cũng yêu thương con cái loài người, nhưng Người ứng xử theo cách của một người mẹ dịu hiền, Đức Mẹ cũng dùng công trạng của Người để bù đắp định luật công thẳng của Chúa, và có những cách an ủi vỗ về, làm vơi dịu những nỗi khó khăn đau khổ, như trong tiệc cưới Ca-na đó, Chúa Giê-su hiển nhiên là biết trước Đức Mẹ về việc thiếu rượu, nếu theo ý Chúa thì cứ để cho người ta thiếu thốn, sượng sùng tủi hổ, như vậy mới là có phúc và phần phúc đó cộng thêm vào vốn liếng đời sau. Nhưng cách của Đức Mẹ là dùng ảnh hưởng (công trạng) của Người để nài ép Chúa cứu giúp người ta qua cơn khốn khó đó, rồi dẫn đưa người ta đến với Chúa: Ga 2, 11: "Chúa Giê-su đã làm phép lạ đầu tiên này tại Ca-na xứ Ga-li-lê-a, và đã tỏ vinh quang Người và các môn đệ đã tin Người."
         Vì thế cầu khấn Đức Mẹ chúng ta thường dễ dàng được những ơn cứu giúp về vật chất nhiều hơn, càng kính mến cậy trông Đức Mẹ , chúng ta càng được chở che đỡ đần, nhiều người nhờ năng lần chuỗi Mân Côi mà Đức Mẹ luôn ban những dấu lạ, ơn lạ để ủi an nâng đỡ họ hàng ngày, việc đó không phải ngẫu nhiên mà ngàn lần như một, mà chúng ta thấy rất rõ trên đường đời: cùng một nghịch cảnh, một tai ương, một nỗi khốn khó, mà người kính mến cậy trông Đức Mẹ luôn luôn được che chở ủi an gấp nhiều lân, cả tinh thần lẫn vật chất.
          Từng người, từng nhà đã vậy, Đức Mẹ còn ban những ơn lớn lao cả thể: bất cứ nơi nào sắp xảy ra những tai ương khốn khó thì Đức Mẹ liền hiện ra ủi an khuyên bảo, chỉ dạy người ta cách thức tránh tai họa. Chẳng hạn đầu thế kỷ 20 , cả thế giới đứng trước thảm họa của quyền lực ác độc bạo tàn và những học thuyết vô cùng gở lạ đẩy thế giới vào con đường diệt vong. Tại Bồ-đào-nha năm 1917, nơi nhà cầm quyền có âm mưu độc ác muốn tiêu diệt sạch Công Giáo, Đức Mẹ đã hiện ra tai Fa-ti-ma cùng ba em nhỏ, truyền dạy nhủ khuyên rằng: 
                           -Hãy ăn năn xám hối cải thiện đời sống
                           -Hãy tôn sùng đền tạ Trái Tim Đức Mẹ
                           -Hãy siêng năng lần hạt Mân Côi
          Và Giáo Hội đã thi hành tích cực triệt để mệnh lệnh của Đức Mẹ: Từng người, từng nhà kết hợp với xứ đạo, địa phận, quốc gia cùng toàn Giáo Hội khắp thế giới, thành Phong Trào Đền Tạ Trái Tim Đức Mẹ sầm uất sôi nổi, cho nên Đức Mẹ đã cứu chữa cách hết sức lạ lùng: Cả dân nước và chính quyền Bồ-đào-nha ăn năn trở lại tôn sùng kính mến Trái Tim Đức Mẹ, dâng nước dâng nhà cho Đức Mẹ.
          Hoặc ngay từ khi đảng Cộng Sản nắm quyền ở Nga, với chế độ độc tài sắt máu và tà thuyết vô thần chủ trương tiêu diệt toàn thể Giáo Hội, không riêng nước Nga mà cả thế giới. Đức Mẹ đã gửi thông điệp qua chị Lu-ci-a, hứa nếu Đức Giáo Hoàng dâng nước Nga cho Đức Mẹ, cộng với việc thi hành ba mệnh lệnh Fa-ti-ma thì Đức Mẹ sẽ giúp cho nước Nga ăn năn trở lại, đó là điều kiện để Đức Mẹ nhân đó mà cứu thế giới. Năm 1984, nước Nga đã được Thánh Gio-an Phao-lô ll chính thức hiến dâng theo đúng nghi thức mà Đức Mẹ đã yêu cầu. Kết quả là ngay sau đó, không những nước Nga mà toàn khối Liên Minh Đông Âu của Nga đã sụp đổ và làm một cuộc cải cách lớn lao không hề đổ máu, và bắt tay vào xây dựng dân chủ dân sinh nhất là việc tự do tôn giáo. Thật rất bất ngờ, rất lạ lùng ! Người ta cứ ngỡ cuộc đổi đời này phải "Máu thành sông, xương thành núi". Điều đó làm sao có thành quả tốt đẹp như vậy nếu không phải là quyền phép của Thiên Chúa qua sự bầu cử nài xin của Đức Mẹ.
          Người theo Chúa Ky-tô không kiêng giữ chay tịnh bằng nhiều Phật Tử, không nhiều luật lệ bằng người Do-thái, không ăn chay giữ luật bằng người Hồi Giáo, nhưng công nghiệp của chúng ta được nhân lên gấp trăm gấp ngàn nhờ công nghiệp Chúa Giê-su Ky-tô. Riêng những người có lòng kính mến cậy trông Đức Mẹ còn được cứu giúp chở che bởi công nghiệp cao cả của "Đức Mẹ Vô Nhiễm" và "Mẹ Thiên Chúa" mà cuộc sống thanh thản, bình an, vững vàng hơn nhiều.
         
               6- ĐỨC MẸ CỘNG TÁC CÙNG CHÚA.
               Mọi tín hữu được Giáo Hội mời gọi cộng tác vào Công Trình Cứu Chuộc của Chúa Giê-su Ky-tô là đem Chúa đến với mọi người bằng gương sống đạo, bằng loan truyền Lời Chúa, bằng cầu nguyện, bằng sự vui lòng chịu mọi khó khăn, đau khổ... Thì chúng ta thấy Đức Mẹ cộng tác cùng Công Trình Cứu Chuộc của Chúa Giê-su trước nhất và trên hết: Từ việc Đức Mẹ nhận lời Sứ Thần Gabriel để chịu thai Chúa Cứu Thế, Đức Mẹ đi viếng bà thánh Ê-li-sa-bét, Đức Mẹ sinh Chúa Giê-su trong hang đá, Đức Mẹ dâng Đức Chúa Giê-su trong Đền Thánh, Đức Mẹ đem Chúa trốn sang Ai-cập, Đức Mẹ tìm lại được Chúa trong Đền Thánh, Đức  Mẹ nài ép Chúa làm phép lạ trong tiệc cưới Ca-na, Đức Mẹ theo Chúa lên đồi khổ nạn, Đức Mẹ dưới chân Thánh Giá, Đức Mẹ táng xác Chúa... Tất cả những sự kiện thánh đó và những ơn lộc Đức Mẹ đổ tràn thế gian, là sự cộng tác vô vàn của Đức Mẹ vào Công Nghiệp Cứu Chuộc của Chúa Giê-su Ky-tô.
        Người thế gian thi ơn một lần mà chúng ta còn biết ghi nhớ, biết ơn và yêu qúy mãi, huống chi Đức Mẹ luôn che chở, cứu giúp, ủi an, đỡ đần, khuyên dạy và chúng ta còn phải nương nhờ Người từng phút từng giây cho đến khi về tới quê thật. Cho nên Chúng ta kính mến cậy trông Đức Mẹ là tuyệt đỉnh khôn ngoan và phải đạo phải lẽ.            Đó là những lý do tại sao chúng ta phải kính mến cậy trông Đức Mẹ.


                                                                                                                                                2002
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Có ai thấy hoặc đụng chạm sờ mó được linh hồn chưa? Có ai cảm nhận được chính linh hồn mình chưa?
Theo sách Sáng Thế, nếu tính dòng dõi từ thời Thiên Chúa tạo dựng trời đất cùng Adam E-và đến thời chúng ta thì chưa đầy mười ngàn năm, nhưng khoa học đã chứng minh rõ ràng: Vũ trụ đã hình thành gần mười lăm tỷ năm, sinh vật đã sinh sôi hàng tỷ năm, con người đã có dấu vết hàng triệu năm. Vậy câu chuyện A-dam E-và hiểu theo nghĩa thường là tổ phụ nhân loại thì thật là vô lý, phản khoa học. Còn "Tội tổ tông" là truyện con rắn dụ bà E-và nên hai ông bà cùng phạm tội ăn trái cấm rồi bị đuổi ra khỏi Eden, từ đó con cháu bị tội truyền mà mất hạnh phúc và phải chết, mà hiểu theo nghĩa thường thì càng thần thoại hoang đường hơn.
Đoạn mở đầu sách Sáng Thế mô tả Thiên Chúa sáng tạo vũ trụ và vạn vật trong vòng sáu ngày, đã từng là đề tài cho nhiều người nhạo báng chê bai: phản khoa học, không đúng tiến trình thời gian, chuyện hoang đường lẩm cẩm... . Người Đạo Chúa một số không để ý tới, có số cũng quan tâm nhưng cho rằng trí khôn mình chẳng thấm vào đâu, cứ vững tin Giáo Hội, vững tin nơi Chúa là đủ. Nhưng có số người thắc mắc nghĩ ngợi sinh buồn chán.
Cũng như phần đầu của sách Sáng Thế, đoạn Kinh Thánh đầy thi vị mộng mơ này ần chứa những công việc vô cùng trọng đại của Thiên Chúa.
Phải hiểu Kinh Thánh mới biết Kinh Thánh vô cùng khoa hoc, mà chỉ được Thiên Chúa soi sáng mới hiểu được Kinh Thánh: Ga 6, 45: "Xưa có lời chép trong sách các ngôn sứ: Hết thảy mọi người phải được Thiên Chúa dạy dỗ. Vậy phàm ai nghe và đón nhận giáo huấn của Cha, thì sẽ đến với Ta"