4- Tội Tổ Tông Truyền

13 Tháng Mười Hai 20158:01 CH(Xem: 2194)
4- Tội Tổ Tông Truyền
                                                                         

                                                         4- TỘI TỔ TÔNG TRUYỀN.
                                                      

       Theo sách Sáng Thế, nếu tính dòng dõi từ thời Thiên Chúa tạo dựng trời đất cùng Adam E-và đến thời chúng ta thì chưa đầy mười ngàn năm, nhưng khoa học đã chứng minh rõ ràng: Vũ trụ đã hình thành gần mười lăm tỷ năm, sinh vật đã sinh sôi hàng tỷ năm, con người đã có dấu vết hàng triệu năm. Vậy câu chuyện A-dam E-và hiểu theo nghĩa thường là tổ phụ nhân loại thì thật là vô lý, phản khoa học. Còn "Tội tổ tông" là truyện con rắn dụ bà E-và nên hai ông bà cùng phạm tội ăn trái cấm rồi bị đuổi ra khỏi Eden, từ đó con cháu bị tội truyền mà mất hạnh phúc và phải chết, mà hiểu theo nghĩa thường thì càng thần thoại hoang đường hơn. Ngày nay ai cũng biết con người trên khắp thế giới có nhiều màu da, nhiều sắc tộc, nên cho dù người dễ tin nhất cũng không thể tin được rằng nhân loại khắp năm châu lại có thể cùng một mẹ sinh ra, cho nên bên ngoài nhiều kẻ chê bai, nhiều kẻ ngại không dám đến với Giáo Hôi, bên trong, nhiều tín hữu lấn cấn trăn trở, nhiêu người hoang mang lo lắng. 

       Về việc tạo dựng con người: St 2, 7: "Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn nên Adam": Ý nói thân xác con người được tạo dựng bằng vật chất cùng với việc tạo dựng linh hồn bằng hơi thở Thiên Chúa. Nhưng tại sao Chúa không nặn Adam bằng đất sét đất thó hoặc bùn mà lại lấy BỤI từ đất, cho nên đó cũng là ngụ ý của Kinh Thánh rằng: Khắp năm châu, con người với mọi màu da, mọi sắc tộc, phát xuất từ nhiều vùng phong thổ, địa lý khác nhau, nếu nhìn cách khoa học về nguồn gốc, chúng ta thấy đất nào người đó. Vậy A-dam E-và phải đươc hiểu là nhân loại, đúng hơn A-dam là mỗi người đàn ông, E-và là mỗi người đàn bà, mọi người đều có thể trở thành tổ phụ. Vậy tội tổ tông phải đươc hiểu như sau:

       Á-đông ta nhiều người có tập quán tốt là: khi mang thai, người đàn bà được căn dặn, nhắc nhở  giữ gìn cẩn thận việc ăn uống, đi đứng, nghỉ ngơi để dưỡng thai, và còn được dặn dò phải giữ lời ăn tiếng nói, cách ăn nết ở dịu dàng nhã nhặn, làm những việc phước đức...  Để đứa con sinh ra được hưởng phước của người mẹ mà tốt lành cả thể xác lẫn tinh thần. Đó là cách dưỡng dục đứa trẻ ngay từ trong bụng mẹ, trăm phần trăm khoa học không hề sai chút nào. Người ta nói: "Cha mẹ ở lành để đức cho con". Thật vậy, hãy xét cách khoa học: khi mang thai đứa trẻ, cha mẹ chăm môn toán đứa con lớn lên cũng giỏi toán, cha mẹ say mê môn nhạc đứa con lớn lên cũng khá nhạc, cha mẹ ăn ở trung trực thẳng thắn đứa con sinh ra cũng sẽ ngay thẳng, cha mẹ đạo đức tốt lành đứa con cũng ngoan ngoãn lễ phép...  Đó là phúc đức được truyền. Nhưng ngược lai, khi mang thai đứa trẻ, cha mẹ ăn ở không ngăn nắp, đứa con sinh ra cũng mang tính bừa bãi, cha mẹ hay xung khắc va chạm đứa con sinh ra cũng ương nghạnh, cha mẹ gian tham đứa cũng mang tật tắt mắt, cha mẹ hay lừa lọng đứa con sinh ra cũng mang tính dối gạt, cha mẹ dâm ô lang chạ đứa con cũng nhiễm tật hoang đàng...  Đó là những việc xảy ra mà có thể kiểm chứng cách khoa học sự lan truyền của phúc đức cũng như tội lỗi qua giòng dõi máu huyết, qua tư tưởng tâm não của cha mẹ ông bà sang con cái cháu chắt. Nên chúng ta thấy có những người sinh năm bảy đứa con mà mỗi đứa một tính một nết, người ta liền đổ cho trời: "Cha mẹ sinh con, trời sinh tính". Thật ra, hãy kiểm chứng lại chúng ta sẽ thấy rất rõ: Người ta sinh ra từng đứa con trong từng giai đoạn của cuộc đời, mọi suy nghĩ mọi hành động qua các giai đoạn đó, từ sinh hoạt trí tuệ đến thể lực, từ sinh hoạt tình dục đến những viêc lành thiện hay bê tha tội lỗi...  Đều ảnh hưởng lây lan đến tính nết từng đứa con cách rất chính xác. Cho nên nhiều người sinh ra đã mang trong mình mầm mống tội lỗi, chứng này tật nọ như dâm ô, ham danh hám lợi, gian dối, tắt mắt, ác độc...  Do lây nhiễm từ cha mẹ. Nhưng chưa hết, tội phúc còn lan truyền trong thời gian đứa trẻ được nuôi dạy không chỉ qua mắt thấy tai nghe mà còn lây hưởng qua tư tưởng suy nghĩ, qua linh hồn cha mẹ sang con cái cách chính xác trăm phần trăm dù con cái không hề mảy may biết các viêc cha mẹ làm, có những việc tệ hại dù có che đậy ngăn ngừa cách mấy chăng nữa nhưng chứng tật của cha mẹ vẫn lây truyền cho con cái mà không có cách gì thay đổi được:  Có nhiều việc xảy ra giữa cha mẹ và con cái mà ít ai để ý,  chẳng hạn có trường hợp người mẹ bị tai nạn, đứa con ở xa hàng mấy trăm cây số, mà giây phút đó bị chao đảo như điện giật, hoặc nhiều người con đi chiến đấu ở phương xa gặp rủi, ngay lúc đó cha mẹ nơi quê nhà ruột gan bồn chồn kỳ lạ. Người ta cho là truyền giao cách cảm, hoặc như trong người có luồng điện. Nhưng xét cách khoa học: linh hồn giống như một khối điện, mà khối điện đó là một sinh thể như các sinh linh trong thế giới thần linh mà Kinh Thánh đã diễn đạt: "Chúng ta hãy tạo nên con người giống hình ảnh chúng ta" cho nên linh hồn không giống như nguồn điện tầm thường, mà linh hồn là sự tác tạo linh diệu của Thiên Chúa, nói đúng hơn là được sinh ra bằng chính Thịt Máu Thiên Chúa, nên linh hồn như một vị thần linh Chúa sinh ra để gắn kết với thân xác chúng ta và linh hồn điều khiển thân xác nên linh hồn được hưởng những công phúc và phải chịu những hậu quả tội lỗi của thân xác, nhưng linh hồn có những hoạt động vượt khỏi thân xác, như Chúa Giê-su đã tiết lộ trong Thông Điệp Tình Yêu Nhân Hậu rằng: trong khi bà Magarita nghỉ ngơi thì linh hồn bà vẫn thờ lạy Chúa. Cho nên phúc cũng như tội lan truyền qua máu thịt xương tủy, qua mắt thấy tai nghe, gương tốt gương xấu và qua linh hồn cha mẹ bao trùm đan kết với linh hồn con cái, đó là điều có thể kiểm nghiệm cách thực tế và khoa học.


          TỘI TRUYỀN VỚI KINH THÁNH.

        Chương Ba, Sách Sáng Thế.

        St 3, 1: "Rắn là loài xảo quyệt nhất trong mọi giống vật ngoài đồng mà ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa đã làm ra, nó nói với người đàn bà: "Có thật Thiên Chúa nói với các ngươi không được ăn hết mọi trái cây trong vườn không. "

       Nhiều người mới thấy con rắn biết nói đã vội cho đoạn Kinh Thánh này là chuyện thần thoại hoang đường. Nhưng như đã nói Kinh Thánh dùng hình ảnh những con vật để chỉ người lành kẻ dữ, như lời thánh Gioan Tẩy Giả: "Loài rắn độc kia, ai đã chỉ cho các ngươi trốn cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp giáng xuống vậy. " Hoặc như Chúa Giê-su: "Đồ mãng xà loài rắn độc kia, các ngươi trốn đâu khỏi hình phạt hỏa ngục. " Do đó chúng ta hiểu rắn là kẻ tội lỗi, là sự tội, là chước cám dỗ, là gương mù gương xấu. Và con rắn đã hỏi E-và: "Có thật Thiên Chúa bảo các ngươi không được ăn hết mọi trái cây trong vườn không? " Thay vì: "Có phải Thiên Chúa bảo các ngươi không được ăn trái cây giữa vườn không? ": Đó là con rắn muốn khích E-và rằng mọi trái cây sinh ra để mà ăn chứ để làm gì . Có nghĩa là sự tinh quái trong chước cám dỗ là làm người ta tìm được đủ mọi lý do để mà phạm tội, thậm chí làm cho người ta mất ý thức về sự tội mà sa ngã sai phạm, chẳng hạn nhiều người cho rằng tiền tài, danh vọng, sắc dục... Là tính tự nhiên của con người mà chính Chúa tạo dựng thì tại sao phải luật này lệ nọ, tại sao phải khuyên răn cấm cản.

       St 2, 2-3: "Người đàn bà nói với con rắn: "Trái cây trong vườn thì chúng tôi được ăn, còn trái cây ở giữa vườn, Thiên Chúa bảo "Các ngươi không được ăn, không đươc đụng tới kẻo phải chết".

       "Bảo" trước nhất là Chúa tạo dựng con người có lương tâm, nói đúng hơn là ơn Chúa, là ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần (Nhưng phải có chút tốt lành nào đó mới được ơn soi sáng: "Có mới được cho") để chúng ta phân biệt trái phải, tốt xấu, phúc tội. Rồi Chúa "Bảo" chúng ta qua sự dạy dỗ của các tiên tri, cuối cùng Chúa đã sai chính Con Một Chúa là Đức Chúa Giê-su Ky-tô, Người đã tận tình răn dạy chỉ bảo mọi đàng. Và Người kế thừa sự nghiệp của Chúa Giê-su Ky-tô là Giáo Hội, Giáo Hội đã loan truyền giảng dạy và đúc kết mọi huấn thị của Chúa thành Giáo Luật. Những gì Chúa bảo mà chúng ta không thi hành, không tuân giữ là sự tội, sự tội làm cho chúng ta mất tư cách làm con Chúa, mất phần thưởng Thiên Chúa dành cho chúng ta là được hưởng Nước Trời, sự mất Chúa, mất Nước Trời là "phải chết".

       St 3, 4-5: "Rắn nói với người đàn bà: "Chẳng chết chóc gì đâu, nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, ông bà sẽ nên như các vị thần, biết điều thiện điều ác."

       Kiêu ngạo là đầu mối gây nên mọi hiềm khích, chia rẽ, ghen ghét, tranh giành, xung đột, ác độc, tàn bạo...  Chúa Giê-su đã phán cùng bà Magarita trong Thông Điệp Nhân Hậu rằng: tội kiêu ngạo gây nên vô vàn tội lỗi và Người gớm ghét tội kiêu ngạo. "Mắt ông bà mở ra, ông bà sẽ nên như các vị thần biết điều thiện điều ác": là sự lừa dối, là chước cám dỗ, là sự xúi bẩy của ma quỷ để chúng ta nghi ngờ lòng lành Chúa, không tin không cậy không kính mến Chúa, ma quỷ cám dỗ để chúng ta tưởng mình là thông thái, tài trí, cao trọng, đạo đức... Cho nên bất cứ tầng lớp nào, không chỉ những người thông minh mà cả những kẻ ngu đần, không chỉ kẻ tội lỗi mà cả những người đạo đức cũng có nhiều duyên cớ để kiêu căng tự phụ mà sinh nhiều giống tội.

       St 3, 6: "Người đàn bà thấy trái cây đó ăn thì ngon, trông thì đẹp mắt và đáng quý vì làm cho mình được tinh khôn. Bà liền hái trái cây mà ăn, rồi đưa cho cả chồng đang ở đó với mình, ông cùng ăn".

       Đoạn Kinh Thánh này thật khôn ngoan tuyệt vời với cách diễn tả vô cùng hình tượng: "Ăn thì ngon", "Trông thì đẹp mắt" , "Và đáng quý" là con người đầy dẫy những tham lam: dục tình, tiền bạc, danh vọng, tài năng, quyền thế, tất cả nhưng cái quý cái hiếm, cái đẹp đẽ cao sang trọng vọng... Đều muốn ôm về mình, muốn thuộc về mình, muốn sở hữu, quản trị, cho nên mới bị cám dỗ mà phạm tội. Ở đây con rắn chỉ cám dỗ có ba điều mà người đàn bà tự nghĩ thêm ba điều nữa vì lòng người đầy dãy tham lam yếu đuối.

       St 3, 7: "Bấy giờ mắt hai người mở ra, và họ thấy mình trần truồng, họ mới kết lá làm khố che thân".

       Kinh Thánh vô cùng khôn ngoan, đã tàng chứa những bí nhiệm hết sức quan trọng của Chúa trong một cốt truyện quá đơn sơ, quá thơ mộng, đến nỗi nhiều người đọc đi đọc lại, càng đọc lại càng tưởng đây là chuyện cổ tích hoang đường, cho nên nếu không có Lời Chúa Giê-su Ky-tô và không hiểu đươc ý Người, chúng ta làm sao có thể hiểu được nghĩa của chữ "trần truồng": Trong dụ ngôn "Tiệc cưới", Mt 22, 1-14, trong đó có đoạn ông chủ đến quan sát khách dự tiệc, thấy một người không mặc áo cưới, mới sai gia nhân trói lại ném ra ngoài. Người khách không mặc y phục tiệc cưới nên không đủ tiêu chuẩn để dự tiệc, nghĩa là người tội lỗi không đủ tư cách vào Nước Trời. Trong dụ ngôn "Người Cha nhân hậu" cũng có đoạn người cha sai giai nhân: "Hãy đem áo mới mặc cho cậu". Trong sách Khải Huyền nói về các thánh cũng có câu "Họ đã giặt áo trong máu Con Chiên". Do đó A-dam E-và trần truồng, kết lá làm khố che thân, được hiểu ra là: Sự tội làm cho con người mất tư cách làm con Chúa, mất quyền lợi hưởng hạnh phúc Nước Trời".

       St 3, 8-11: "Nghe thấy tiếng ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa đi dạo trong vườn lúc gió thổi trong ngày, A-dam và vợ mình trốn vào giữa cây cối trong vườn. ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa gọi A-đam mà hỏi: "Ngươi ở đâu " , A-đam thưa: "Con nghe thấy tiếng Ngài trong vườn, con sợ hãi vì con trần truồng nên con lẩn trốn". ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa hỏi: "Ai đã cho ngươi biết là ngươi trần truồng . Có phải ngươi đã ăn trái mà Ta đã cấm ngươi ăn không ?"

       Đến đây chúng ta thấy rất rõ cách Kinh Thánh diễn đạt: "Trái" mà Chúa cấm con người không được ăn là những việc xấu xa tội lỗi, khi con người phạm tội thì bị mất tư cách làm con Chúa là "trần truồng", mà phải trốn vào giữa "cây rừng" là đường tối tăm xa lạc Chúa, trong khi đường đến với Chúa thì quang sáng: "Lúc gió thổi trong ngày".

       St 3, 12-13: "A-dam thưa: "Người đàn bà Ngài cho ở với con đã cho con ăn trái ấy nên con ăn". ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa hỏi người đàn bà: "Ngươi đã làm gì thế." Người đàn bà thưa: "Con rắn đã lừa dối con nên con ăn".

       Không chỉ đàn bà dụ dỗ đàn ông phạm tội, cũng không chỉ đàn bà mới bị cám dỗ, và không con rắn nào; không chước cám dỗ nào có thể cám dỗ nếu lòng người không tham lam yếu đuối: "Ăn thì ngon", "Trông thì đẹp mắt", "Và đáng quý". Tuy nhiên, người ta nói: "Lấy lửa thử vàng, lấy vàng thử đàn bà, lấy đàn bà thử đàn ông": Thường thì người đàn bà thích ăn ngon măc đẹp, thích giầu sang phú quý, yếu đuối trước những xa hoa phù phiếm hơn, còn người đàn ông thường dễ pham tội nguyên do vì người đàn bà hơn.

       St 3, 14: "ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa phán với con rắn: "Mi đã làm điều đó nên đáng bị nguyền rủa nhất trong mọi loài dã thú, mi phải bò bằng bụng, phải ăn bùn đất mọi ngày trong đời mi".

       Kinh Thánh quá cao siêu: Lời nguyền của Thiên Chúa đó lại giống hệt lời nguyền của Chúa Giê-su Ky-tô: "Khốn cho thế gian vì làm cớ cho người ta sa ngã... ". Thực tế rắn ăn ếch nhái, gà vit, chứ rắn không ăn đất. "bùn đất" là thức ăn của sự chết phần linh hồn. Con rắn phải bò bằng bụng là đi liền với cái chết, ôm ấp sự chết, ăn bùn đất hằng ngày là ăn uống sự chết hằng ngày mà dẫn đến sự chết muôn đời. Ngược lại với ĂN BÁNH hằng ngày như: "Xin Cha cho chúng con BÁNH hằng ngày" là linh hồn được nuôi dưỡng hàng ngày để đạt tới sự sống đời.

        St 3, 15: "Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa giòng giống mi và giòng giống người ấy. Giòng giống ấy sẽ đánh vào đầu mi và mi sẽ rình cắn gót nó."

       "Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà": Chúa không tách biệt người thiện kẻ ác, Chúa không phân ly kẻ dữ người lành như dụ ngôn "Cỏ lùng", Chúa cũng không triệt hạ hay nghiêm trị tại chỗ những kẻ làm gương xấu. Vì có chước cám dỗ, có sự dữ, sự khó khăn độc hại, để những ai thắng vượt được mới có công phúc, công phúc mới bác được nhịp cầu qua khoảng cách giữa Thần Linh và cát bụi.

       "Giữa giòng giống mi và giòng giống người ấy": Mầm mống tội lỗi, nọc độc tội lỗi bị lây lan di truyền từ cha mẹ đến con cái cháu chắt, từ linh hồn đến xương tủy máu thịt, mắt thấy tai nghe, gương mù gương xấu.

       "Giòng giống ấy sẽ đánh vào đầu mi và mi sẽ rình cắn gót nó": vì sự lây lan di truyền tội lỗi từ ông bà cha mẹ đời này chồng chất qua đời nọ, nên người ta sinh ra đã mang sẵn trong mình những mầm mống tội lỗi, đam mê tiền tài, sắc dục, địa vị danh vọng... Mà từng giây từng phút phải giằng co vật lộn giữa thiện ác tốt xấu.

       St 3, 16: "Với người đàn bà Chúa phán: "Ta sẽ làm cho ngươi phải cực nhoc thật nhiều khi thai nghén, ngươi sẽ phải cực nhọc lúc sinh con, ngươi sẽ phải thèm muốn chồng ngươi và nó sẽ thống trị ngươi."

         Lời Chúa phán với người đàn bà, chúng ta thường nghĩ đó là một lời nguyền. Thật ra những đau khổ, cực nhọc vất vả, thèm muốn, nhục nhã...  Xét cho cùng cũng là ơn Chúa cho người đàn bà có cơ hội lập công phúc để đền trả tội lỗi mà phục hồi tư cách làm con Chúa, giành lại được quyên hưởng phúc trường sinh.

       St 3, 17: "Với A-dam Chúa phán: "Vì ngươi đã nghe lời vợ mà ăn trái cây mà ta đã truyền cho ngươi rằng 'Ngươi đừng ăn nó' nên đất đai bị nguyền rủa vì ngươi, ngươi sẽ phải cực nhọc mọi ngày trong đời ngươi mới kiếm được miếng ăn từ đất mà ra."

       Câu này cũng bị coi là lời nguyền, nhưng như Chúa Giê-su: Ga 6, 27: "Các ngươi hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường tồn đem lại phúc trường sinh..." : "miếng ăn" là lương thực nuôi sống linh hồn như lời Chúa Giê-su đó. Vì bất tuân lời Chúa, vì tội lỗi con người phải nhờ những đau khổ lao nhọc, phấn đấu với nghịch cảnh hằng ngày để lập công phúc mà đền bù tội lỗi mới có "miếng ăn" để phục hồi sự sống linh hồn.

       St 3, 18-19: "Đất đai sẽ trổ gai góc cho ngươi, ngươi sẽ ăn cỏ ngoài đồng, ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn, cho đến khi ngươi trở về với đất, vì từ đất ngươi đã đã được lấy ra. Ngươi là bụi đất sẽ trở về với bụi đất."

       "Gai góc" như trong dụ ngôn "Gieo giống" là những tham lam lo lắng thế trần nên con người không tạo được công phúc nên phải ăn "CỎ" là thứ lương thực không đủ bổ dưỡng để linh hồn được nuôi sống. "BÁNH" có nghĩa như lời Chúa Giê-su: "Ta là BÁNH hằng sống" nên chúng ta hiểu là từ khi Chúa Giê-su Ky-tô xuống thế làm người chịu nạn chịu chết để lập công cứu chuộc thì con người mới có BÁNH Chúa Ky-tô là lương thực bởi trời bổ dưỡng cho linh hồn được sống dũng mãnh, được ơn cứu độ sung mãn.

       "Đổ mồ hôi trán": như lời Chúa Giê-su Ky-tô: "Hỡi những kẻ khó nhọc và gánh nặng, hãy đến Ta sẽ bổ sức cho các ngươi", hoặc: "Các ngươi hãy ra công làm việc không phải của ăn hay hư nát, nhưng vì của ăn tồn tại cho đến cuộc sống đời đời, là của ăn Con Người sẽ ban cho các ngươi" là nhờ những lao nhọc vất vả để đền bù tội lỗi mà linh hồn mới có BÁNH  để nuôi dưỡng phuc hồi.

       "Cho đến khi ngươi trở về với đất, vì từ đất ngươi đã được lấy ra." thì được phép hiểu là cho đến khi từ giã cõi đời. Nhưng " Ngươi là bụi đất sẽ trở về với bụi đất" thì lại phải hiểu ý Kinh Thánh rằng: "bụi đất" là thân phận hèn mọn của con người, mà vì phạm tội nên con người không thoát khỏi thân phận bụi đất mọn hèn, cho nên không mấy ai được hưởng hạnh phúc Nước Trời nếu không có ơn cứu độ của Chúa Giê-su Ky-tô.

       St 3, 20: "A-đam đặt tên cho vợ là E-và vì bà là mẹ chúng sinh."

       "Đặt tên" là sự tôn trọng: Ý nói về địa vị của người đàn bà. Đây âu cũng là giới răn của Thiên Chúa dạy người đàn ông phải tôn trọng vợ mình và dạy những đứa con phải kính trọng mẹ mình.

       St 3, 21: "ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa làm cho A-đam và vợ những chiếc áo bằng da và mặc cho họ."

       Vì phạm tội nên con người "trần truồng" là mất tư cách làm con Chúa, mất tư cách hưởng Nước Trời. Thiên Chúa làm cho họ "những chiếc áo bằng da" là tìm cách phục hồi tái sinh nhân loại như sai các tiên tri ngôn sứ đến uốn nắn dạy bảo, nhưng cũng chỉ như "những chiếc áo da" chưa đủ tiêu chuẩn dự lễ cưới, chưa đủ tư cách hưởng Nước Trời. Cho nên chính Con Thiên Chúa phải xuống thế làm người, tận tình dạy dỗ, chịu nạn chịu chết để lập công cứu chuộc, mới làm được cho nhân loại lễ phục chỉnh tề để tham dự Bàn Tiệc Nước Trời, như đoạn nói về các thánh: "Họ đã giặt ÁO trong máu CON CHIÊN".

       St 3, 22-23: "ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa nói: "Này con người đã trở thành kẻ trong chúng ta, biết điều thiện điều ác, bây giờ đừng để nó hái cây trường sinh mà ăn và được sống mãi. ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa đuổi con người ra khỏi vườn E-den để cầy cấy đất đai, từ đó con người được lấy ra."

       "Này con người đã trở thành kẻ trong chúng ta, biết điều thiện điều ác": là con người kiêu ngạo muốn trở thành thần thánh, muốn biết điều thiện điều ác nên mới pham tội, nên mất quyền làm con Chúa, mất phúc hưởng Nước Trời: "Bây giờ đừng để nó hái cả cây trường sinh mà ăn và được sống mãi": Đoạn này từng bị hiểu lầm rằng: vì nguyên tổ ăn trái cấm nên nhân loại đều phải chết thay vì đã được sinh ra là sống mãi, nhưng phải hiểu ý Kinh Thánh nói về mất sự sống phần linh hồn, mất phần thưởng Nước Trời.

       "Vườn E-den" bị hiểu sai là khu vườn có thật đâu đó nên người ta còn ra công tìm kiếm. Mà E-den phải được hiểu là sự bình an thảnh thơi của những tâm hồn trong trắng vô tội dù trong hoàn cảnh nghèo hèn, bệnh tât, hoạn nạn, loạn lạc... Như  bình an của Chúa Ky-tô : "Thầy ban bình an của Thầy cho các con." Bị đuổi khỏi E-den là con người vì tội lỗi mà xác không an hồn không ổn, luôn đau khổ, lo sợ, thèm khát, ham muốn...  "Cầy cấy đất đai" là con người phải sống trong sự đe dọa của ốm đau, tật nguyền, già nua, chết chóc... 

       St 3, 24: "Người trục xuất con người, và ở phía đông vườn E-den Người đặt các thần hộ giá với lưỡi gươm sáng lóe để canh giữ đường đến cây trường sinh."

       "Người trục xuất con người" là con người vì phạm tội mà xác không yên, hồn không mạnh, gian nan khốn khổ, lo sợ trăm bề. "Thần hộ giá" là Thiên Chúa giám sát con người từng giây từng phút cả tư tưởng, lời nói, viêc làm. "Với lưỡi gươm SÁNG LÓE": "sáng lóe" là Ánh Sáng như Ánh Sáng Chúa Ky-tô. "LƯỠI GƯƠM SÁNG LÓE" là những Định Luật công thẳng không thể mảy may xê dịch thay đổi, cho nên con người không thể đến được "CÂY TRƯỜNG SINH" là cuộc sống đời đời trong Nước Chúa. Vì thế con người chỉ còn cậy nhờ công nghiệp Chúa Giê-su Ky-tô mới phục hồi được tư cách làm con Chúa. Nhờ Chúa Giê-su Ky-tô là BÁNH thì linh hồn chúng ta mới được nuôi dưỡng để sống sung mãn. Nhờ Chúa Giê-su đã làm cho chúng ta y phục chỉnh tề để tham dự Bàn Tiệc Nước Trời.

       Tóm lại, mầm mống, nọc độc tội lỗi bị lây lan truyền nối từ ông bà cha mẹ đến con cái cháu chắt, đời này sang đời khác mà khoa học có thể xác định, và còn hơn sự tính toán của khoa học là những kiểm nghiệm thực tế song song với sự xác định rõ ràng mà Kinh Thánh muốn diễn đạt chứ không mơ hồ úp mở. Cho nên đức tin người Ky-tô thật đúng đắn và có căn cứ vững vàng.

       Và khi chúng ta đã hiểu rõ căn do của "tội truyền" thì tín lý ĐỨC NỮ MARIA VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI  hoàn toàn đơn giản dễ hiểu là: Đức Nữ Maria trong sạch vẹn toàn,  không hề bị lây nhiễm mọi tội lỗi, mọi tính hư tật xấu từ cha mẹ, giòng dõi đến tha nhân.

       Đức Nữ Maria VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI, TRỌN ĐÒI ĐỒNG TRINH và vẹn toàn mọi nhân đức, mói xứng đáng làm MẸ SINH ĐẤNG CỨU THẾ, mới xứng đáng là MẸ THIÊN CHÚA.

                                                                                                                                                     2000
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn