4- Tội Truyền

13 Tháng Mười Hai 20158:01 CH(Xem: 13634)
4- Tội Truyền
                                                                         

                                                             4- TỘI TRUYỀN.
                                                      

       Về việc tạo dựng con người: St 2, 7: "Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn nên Adam": A-dam E-và phải đươc hiểu là nhân loại, đúng hơn A-dam là mỗi người đàn ông, E-và là mỗi người đàn bà, mọi người đều có thể trở thành tổ phụ của một dòng dõi. Vậy tội tổ tông phải đươc hiểu như sau:

       Á-đông ta nhiều người có tập quán tốt là: khi mang thai, người đàn bà được nhắc nhở phải giữ gìn cẩn thận việc ăn uống, đi đứng, nghỉ ngơi để dưỡng thai, và còn được dặn dò phải giữ lời ăn tiếng nói, cách ăn nết ở dịu dàng nhã nhặn, làm những việc phước đức...  Để đứa con sinh ra được hưởng phước của người mẹ mà tốt lành cả thể xác lẫn tinh thần. Đó là cách dưỡng dục đứa trẻ ngay từ trong bụng mẹ, trăm phần trăm khoa học không hề sai chút nào. Người ta nói: "Cha mẹ ở lành để đức cho con". Thật vậy, hãy xét cách khoa học: khi mang thai đứa trẻ, cha mẹ ăn ở trung thực đứa con sinh ra cũng sẽ ngay thẳng, cha mẹ đạo đức tốt lành đứa con cũng ngoan ngoãn.  Đó là phúc đức được truyền. Ngược lại, khi mang thai đứa trẻ, cha mẹ hay lừa lọng đứa con sinh ra cũng mang tính dối gạt, cha mẹ dâm ô lang chạ đứa con cũng nhiễm tật hoang đàng...  Đó là những việc xảy ra mà có thể kiểm chứng cách khoa học sự lan truyền của phúc đức cũng như tội lỗi qua giòng dõi máu huyết, qua tư tưởng tâm não của cha mẹ ông bà sang con cái cháu chắt. Chúng ta thấy có những người sinh năm bảy đứa con mà mỗi đứa một tính một nết, hãy kiểm chứng lại chúng ta sẽ thấy rất rõ: Người ta sinh ra từng đứa con trong từng giai đoạn của cuộc đời, mọi suy nghĩ mọi hành động qua các giai đoạn đó, từ sinh hoạt trí tuệ đến thể lực, từ sinh hoạt tình dục đến những việc lành thiện hay bê tha tội lỗi...  Đều ảnh hưởng lây lan đến tính nết từng đứa con cách rất chính xác. Cho nên có người chưa kịp lớn đã thể hiện cung cách hiền lương đức độ, lại có người sinh ra đã mang trong mình mầm mống tội lỗi, chứng này tật nọ như dâm ô, ham danh hám lợi, gian dối, tắt mắt, ác độc...  Do lây hưởng từ cha mẹ. Nhưng chưa hết, tội phúc còn lan truyền trong thời gian đứa trẻ được nuôi dạy không chỉ qua mắt thấy tai nghe mà còn lây hưởng qua tư tưởng suy nghĩ, qua linh hồn cha mẹ sang con cái cách chính xác trăm phần trăm cho dù có những việc con cái không hề mảy may biết các việc đó của cha mẹ, có những việc chính cha mẹ biết là tệ hại nên che đậy ngăn ngừa cách mấy chăng nữa nhưng chứng tật của cha mẹ vẫn lây truyền cho con cái mà không có cách gì thay đổi được.


          TỘI TRUYỀN VỚI KINH THÁNH.

        Chương Ba, Sách Sáng Thế.

        St 3, 1: Rắn là loài xảo quyệt nhất trong mọi giống vật ngoài đồng mà ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa đã làm ra, nó nói với người đàn bà: "Có thật Thiên Chúa nói với các ngươi không được ăn hết mọi trái cây trong vườn không?"

        Như lời thánh Gioan Tẩy Giả: "Loài rắn độc kia, ai đã chỉ cho các ngươi trốn cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp giáng xuống vậy." Hoặc như Chúa Giê-su: "Đồ mãng xà loài rắn độc kia, các ngươi trốn đâu khỏi hình phạt hỏa ngục." Do đó chúng ta hiểu rắn là kẻ tội lỗi, là chước cám dỗ, là gương mù gương xấu. Và con rắn đã hỏi E-và: "Có thật Thiên Chúa bảo các ngươi không được ăn hết mọi trái cây trong vườn không? " Trong khi Chúa chỉ cấm ăn trái cây giữa vườn. Cho thấy sự tinh quái trong chước cám dỗ là làm người ta tìm được đủ mọi lý do để mà phạm tội, thậm chí làm cho người ta mất ý thức về sự tội mà sa ngã sai phạm, chẳng hạn nhiều người cho rằng tiền tài, danh vọng, sắc dục... Là tính tự nhiên của con người mà chính Chúa tạo dựng thì tại sao phải luật này lệ nọ, tại sao phải khuyên răn cấm cản?

       St 2, 2-3: Người đàn bà nói với con rắn: "Trái cây trong vườn thì chúng tôi được ăn, còn trái cây ở giữa vườn, Thiên Chúa bảo "Các ngươi không được ăn, không đươc đụng tới kẻo phải chết".

       "Bảo" trước nhất là Chúa tạo dựng con người có lương tâm, nói đúng hơn là ơn Chúa, là ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần để chúng ta phân biệt trái phải, tốt xấu, phúc tội. Rồi Chúa "Bảo" chúng ta qua sự dạy dỗ của các tiên tri, ngôn sứ... Rồi Chúa đã sai chính Con Một Chúa là Đức Chúa Giê-su Ky-tô, Người đã tận tình răn dạy chỉ bảo mọi đàng. Và Người kế thừa sự nghiệp của Chúa Giê-su Ky-tô là Giáo Hội, Giáo Hội đã loan truyền giảng dạy và đúc kết mọi huấn thị của Chúa thành Giáo Luật. Những gì Chúa bảo mà chúng ta không thi hành, không tuân giữ là sự tội, sự tội làm cho chúng ta mất tư cách làm con Chúa, mất phần thưởng Thiên Chúa dành cho chúng ta là được hưởng Nước Trời, sự mất Chúa, mất Nước Trời là "phải chết".

       St 3, 4-5: Rắn nói với người đàn bà: "Chẳng chết chóc gì đâu, nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, ông bà sẽ nên như các vị thần, biết điều thiện điều ác.":

        Sự lừa dối, xúi bẩy của ma quỷ để chúng ta tưởng mình là thông thái, tài trí, cao trọng... Cho nên mới sinh vô vàn tội lỗi.

       St 3, 6: "Người đàn bà thấy trái cây đó ăn thì ngon, trông thì đẹp mắt và đáng quý vì làm cho mình được tinh khôn. Bà liền hái trái cây mà ăn, rồi đưa cho cả chồng đang ở đó với mình, ông cùng ăn".

        "Ăn thì ngon", "Trông thì đẹp mắt" , "Và đáng quý", "Được tinh khôn" là con người đầy dẫy những tham lam: dục tình, tiền bạc, danh vọng, tài năng, quyền thế, tất cả nhưng cái quý cái hiếm, cái đẹp đẽ cao sang trọng vọng... Đều muốn ôm, muốn thuộc về mình, muốn sở hữu, muốn quản trị... Cho nên mới bị cám dỗ mà phạm tội. Ở đây con rắn chỉ cám dỗ có ba điều mà người đàn bà tự nghĩ thêm bốn điều nữa vì lòng đầy dãy tham lam ước muốn.

       St 3, 7: "Bấy giờ mắt hai người mở ra, và họ thấy mình trần truồng, họ mới kết lá làm khố che thân".

       Kinh Thánh tàng chứa những bí nhiệm hết sức quan trọng của Chúa trong một cốt truyện quá thơ mộng, đến nỗi nhiều người đọc đi đọc lại, càng đọc lại càng tưởng đây là chuyện cổ tích hoang đường, cho nên nếu không có Lời Chúa Giê-su Ky-tô và không hiểu đươc ý Người, chúng ta làm sao có thể hiểu được nghĩa của chữ "trần truồng": Trong dụ ngôn "Tiệc cưới", Mt 22, 1-14, trong đó có đoạn ông chủ đến quan sát khách dự tiệc, thấy một người không mặc áo cưới, mới sai gia nhân trói lại ném ra ngoài: Người khách không mặc y phục tiệc cưới nên không đủ tiêu chuẩn để dự tiệc, nghĩa là người tội lỗi không đủ tư cách vào Nước Trời. Trong dụ ngôn "Người Cha nhân hậu" cũng có đoạn người cha sai giai nhân: "Hãy đem áo mới mặc cho cậu". Trong sách Khải Huyền nói về các thánh cũng có câu "Họ đã giặt áo trong máu Con Chiên". Do đó A-dam E-và trần truồng, kết lá làm khố che thân, được hiểu ra là: Sự tội làm cho con người mất tư cách làm con Chúa, mất quyền lợi hưởng hạnh phúc Nước Trời.

       St 3, 8-11: Nghe thấy tiếng ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa đi dạo trong vườn lúc gió thổi trong ngày, A-dam và vợ mình trốn vào giữa cây cối trong vườn. ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa gọi A-đam mà hỏi: "Ngươi ở đâu " , A-đam thưa: "Con nghe thấy tiếng Ngài trong vườn, con sợ hãi vì con trần truồng nên con lẩn trốn". ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa hỏi: "Ai đã cho ngươi biết là ngươi trần truồng . Có phải ngươi đã ăn trái mà Ta đã cấm ngươi ăn không ?"

       Đến đây chúng ta thấy rất rõ cách Kinh Thánh diễn đạt: "Trái" mà Chúa cấm con người không được ăn là những việc xấu xa tội lỗi, khi con người phạm tội thì bị mất tư cách làm con Chúa là "trần truồng", mà phải trốn vào giữa "cây rừng" là đường tối tăm xa lạc Chúa, trong khi đường đến với Chúa thì quang sáng: "Lúc gió thổi trong NGÀY".

       St 3, 12-13: A-dam thưa: "Người đàn bà Ngài cho ở với con đã cho con ăn trái ấy nên con ăn". ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa hỏi người đàn bà: "Ngươi đã làm gì thế." Người đàn bà thưa: "Con rắn đã lừa dối con nên con ăn":

       Không chỉ đàn bà dụ dỗ đàn ông phạm tội, cũng không chỉ đàn bà mới bị cám dỗ, và không con rắn nào; không chước cám dỗ nào có thể cám dỗ nếu lòng người không tham lam yếu đuối: "Ăn thì ngon", "Trông thì đẹp mắt"... Tuy nhiên, người ta nói: "Lấy lửa thử vàng, lấy vàng thử đàn bà, lấy đàn bà thử đàn ông": Thường thì người đàn bà thích ăn ngon măc đẹp, thích giầu sang phú quý, yếu đuối trước những xa hoa phù phiếm hơn, còn người đàn ông thường dễ pham tội nguyên do vì người đàn bà hơn.

       St 3, 14: "ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa phán với con rắn: "Mi đã làm điều đó nên đáng bị nguyền rủa nhất trong mọi loài dã thú, mi phải bò bằng bụng, phải ăn bùn đất mọi ngày trong đời mi".

        Lời nguyền của Thiên Chúa đó lại giống hệt lời nguyền của Chúa Giê-su Ky-tô: "Khốn cho thế gian vì làm cớ cho người ta sa ngã... "  Thực tế rắn ăn ếch nhái, gà vịt, chứ rắn không ăn đất. "bùn đất" là thức ăn của sự chết. Kẻ tội lỗi là con rắn phải bò bằng bụng là đi liền với cái chết, ôm ấp sự chết, ăn bùn đất hằng ngày là linh hồn bị dính kết nhơ nhớp hằng ngày sinh yếu đuối nặng nề mà bị lôi kéo vào nơi của ma quỷ. 

        St 3, 15: "Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa giòng giống mi và giòng giống người ấy. Giòng giống ấy sẽ đánh vào đầu mi và mi sẽ rình cắn gót nó.":

        Vì sự lây lan di truyền tội lỗi từ ông bà cha mẹ đời này chồng chất qua đời nọ, nên người ta sinh ra đã mang sẵn trong mình những mầm mống tội lỗi, đam mê tiền tài, sắc dục, địa vị danh vọng... Mà từng giây từng phút phải giằng co vật lộn giữa thiện ác tốt xấu.

       St 3, 16-19: Với người đàn bà Chúa phán: "Ta sẽ làm cho ngươi phải cực nhọc thật nhiều khi thai nghén, ngươi sẽ phải cực nhọc lúc sinh con, ngươi sẽ phải thèm muốn chồng ngươi và nó sẽ thống trị ngươi." Với A-dam Chúa phán: "Vì ngươi đã nghe lời vợ mà ăn trái cây mà ta đã truyền cho ngươi rằng 'Ngươi đừng ăn nó' nên đất đai bị nguyền rủa vì ngươi, ngươi sẽ phải cực nhọc mọi ngày trong đời ngươi mới kiếm được miếng ăn từ đất mà ra. Đất đai sẽ trổ gai góc cho ngươi, ngươi sẽ ăn cỏ ngoài đồng, ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn, cho đến khi trở về với đất, vì từ đất ngươi đã được lấy ra. Ngươi là bụi đất sẽ trở về với bụi đất."
         Những đau khổ, nhục nhã, cay đắng, vất vả... Tạo nên công phúc là "miếng ăn"
 là "BÁNH" để linh hồn kẻ tội lỗi được nuôi dưỡng phục hồi.
          Và như lời Chúa Giê-su: "Ta là BÁNH hằng sống" nên từ khi Chúa Giê-su Ky-tô xuống thế làm người chịu nạn chịu chết để lập công cứu chuộc, chúng ta mới có LƯƠNG THỰC dồi dào để linh hồn được tái sinh, được nuôi dưỡng.


       St 3, 20: "A-đam đặt tên cho vợ là E-và vì bà là mẹ chúng sinh.": Đây là giới răn của Thiên Chúa dạy người đàn ông phải tôn trọng vợ mình và dạy những đứa con phải kính trọng mẹ mình.

       St 3, 21: "ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa làm cho A-đam và vợ những chiếc áo bằng da và mặc cho họ."

       Vì phạm tội nên con người "trần truồng" là mất tư cách làm con Chúa, mất tư cách hưởng Nước Trời. Thiên Chúa làm cho họ "những chiếc áo bằng da" là tìm cách phục hồi tái sinh nhân loại như sai các tiên tri ngôn sứ đến uốn nắn dạy bảo, nhưng cũng chỉ như "những chiếc áo da" chưa đủ tiêu chuẩn dự lễ cưới, chưa đủ tư cách hưởng Nước Trời. Cho nên chính Con Thiên Chúa phải xuống thế làm người, tận tình dạy dỗ, chịu nạn chịu chết để lập công cứu chuộc, mới làm được cho nhân loại lễ phục chỉnh tề để tham dự Bàn Tiệc Nước Trời, như đoạn nói về các thánh: "Họ đã giặt ÁO trong máu CON CHIÊN".

       St 3, 22-23: "ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa nói: "Này con người đã trở thành kẻ trong chúng ta, biết điều thiện điều ác, bây giờ đừng để nó hái cây trường sinh mà ăn và được sống mãi. ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa đuổi con người ra khỏi vườn E-den để cầy cấy đất đai, từ đó con người được lấy ra.":

            Con người pham tội nên mất quyền làm con Chúa, mất phúc hưởng Nước Trời. E-den phải được hiểu là sự bình an thảnh thơi của những tâm hồn trong trắng vô tội dù trong hoàn cảnh nghèo hèn, bệnh tật, hoạn nạn, loạn lạc... Bị đuổi khỏi E-den là con người vì tội lỗi mà xác không an hồn không ổn, luôn đau khổ, lo sợ, thèm khát, ham muốn...   

       St 3, 24: "Người trục xuất con người, và ở phía đông vườn E-den Người đặt các thần hộ giá với lưỡi gươm sáng lóe để canh giữ đường đến cây trường sinh."

           "LƯỠI GƯƠM SÁNG LÓE" là những Định Luật công thẳng không thể mảy may xê dịch thay đổi, cho nên con người không thể đến được "CÂY TRƯỜNG SINH" là cuộc sống đời đời trong Nước Chúa. Vì thế con người chỉ còn cậy nhờ công nghiệp Chúa Giê-su Ky-tô mới phục hồi được tư cách làm con Chúa. Nhờ Chúa Giê-su Ky-tô là BÁNH thì linh hồn chúng ta mới được nuôi dưỡng để sống sung mãn. Nhờ Chúa Giê-su đã làm cho chúng ta y phục chỉnh tề để tham dự Bàn Tiệc Nước Trời.

       Tóm lại, mầm mống, nọc độc tội lỗi bị lây lan truyền nối từ ông bà cha mẹ đến con cái cháu chắt, đời này sang đời khác mà khoa học có thể xác định, và còn hơn sự tính toán của khoa học là những kiểm nghiệm thực tế song song với sự xác định rõ ràng mà Kinh Thánh muốn diễn đạt chứ không mơ hồ úp mở. Cho nên đức tin người Ky-tô thật đúng đắn và có căn cứ vững vàng.

       Và khi chúng ta đã hiểu rõ căn do của "tội truyền" thì tín lý ĐỨC NỮ MARIA VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI  hoàn toàn đơn giản dễ hiểu là: Đức Nữ Maria trong sạch vẹn toàn,  không hề bị lây nhiễm mọi tội lỗi, mọi tính hư tật xấu từ cha mẹ, giòng dõi đến tha nhân, mới xứng đáng làm MẸ SINH ĐẤNG CỨU THẾ, mới xứng đáng là MẸ THIÊN CHÚA.
                                                                                                                   1998



Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Thủa xưa cha ông chúng ta ngỡ rằng Thiên Chúa chỉ tạo dựng mặt đất với mặt trời, mặt trăng và các vì tinh tú gắn vào nền trời, mà Thiên Chúa đã được tôn thờ là Đấng vô cùng cao trọng quyền phép, nhưng nhờ khoa học đã khám phá ra cả một vũ trụ bao la vô cùng vô tận hàng tỷ tỷ tinh tú, và những sự sắp xếp kỳ diệu trong việc tạo dưng mọi vật mọi loài, chúng ta mới nhận ra Thiên Chúa là Đấng cao trọng, tài năng quyền phép muôn muôn trùng trùng.
Thủa xưa cha ông chúng ta ngỡ rằng Thiên Chúa chỉ tạo dựng mặt đất với mặt trời, mặt trăng và các vì tinh tú gắn vào nền trời, mà Thiên Chúa đã được tôn thờ là Đấng vô cùng cao trọng quyền phép, nhưng nhờ khoa học đã khám phá ra cả một vũ trụ bao la vô cùng vô tận hàng tỷ tỷ tinh tú, và những sự sắp xếp kỳ diệu trong việc tạo dưng mọi vật mọi loài, chúng ta mới nhận ra Thiên Chúa là Đấng cao trọng, tài năng quyền phép muôn muôn trùng trùng.
Lời Chúa Giesu Kyto được ghi chép quá ít so với các loại sách vở nhưng đã chất chứa đầy đủ mọi lý lẽ khôn ngoan đủ dể cứu độ nhân loại. Phúc Âm Chúa cũng nói rất ít về Đức Mẹ, nhưng chỉ một số đoạn ngắn mà chúng ta có thể tìm thấy tất cả các bằng chứng về các nhân đức của Người. Những công phúc đó đã tạo nên vô vàn công phúc để Đức Mẹ được Chúa thưởng dịa vị cao trọng nhất dưới ngai Thiên Chúa
Lòng kính mến Đức Mẹ đã có từ thời Chúa Giê-su còn rao giảng: khi nhận ra Chú cao trọng quyền năng, người ta kính mến ngưỡng mộ vị sinh thành ra Người: "Phúc thay dạ đã cưu mang Người, phúc thay vú đã cho Người bú mớm."
Có người cho rằng bánh rượu trong PHÉP THÁNH THỂ chỉ là biểu tượng; nghi thức bẻ bánh chỉ để tưởng nhớ đến Chúa Ky-tô. Cũng có người cho rằng ăn bánh uống rượu đó dù sao cũng được on Chúa.
Có người cho rằng bánh rượu trong PHÉP THÁNH THỂ chỉ là biểu tượng; nghi thức bẻ bánh chỉ để tưởng nhớ đến Chúa Ky-tô. Cũng có người cho rằng ăn bánh uống rượu đó dù sao cũng được on Chúa.
Nhiều người đọc Phúc Âm thấy những câu xem ra khó hiểu, sai sót, nghịch lý, mâu thuẫn..., nên không tin đó là Lời Chúa, không tin Chúa Giê-su là Thiên Chúa. Cũng có người tin Phúc Âm, tin Chúa Giê-su là Thiên Chúa nhưng cho là tại "Tam sao thất bản", hoặc tại phong tục tập quán của người Do-thái khác lạ... . Thật ra những từ, những câu, những đoạn có vẻ khó hiểu, lẩm cẩm lại là những điều cốt lõi quan trọng. Ở đây chỉ xem xét những câu khó hiểu nhất mà chưa từng được giải thích hoặc giải thích chưa thỏa đáng.
Phải hiểu Kinh Thánh mới biết Kinh Thánh vô cùng khoa hoc, mà chỉ được Thiên Chúa soi sáng mới hiểu được Kinh Thánh: Ga 6, 45: "Xưa có lời chép trong sách các ngôn sứ: Hết thảy mọi người phải được Thiên Chúa dạy dỗ. Vậy phàm ai nghe và đón nhận giáo huấn của Cha, thì sẽ đến với Ta"
Cũng như phần đầu của sách Sáng Thế, đoạn Kinh Thánh đầy thi vị mộng mơ này ần chứa những công việc vô cùng trọng đại của Thiên Chúa.
Chúng ta cậy trông khấn xin Đức Mẹ mà được những ơn cứu giúp rất lạ lùng phần hồn phần xác, và chúng ta thấy tỏ tường : gia đình, giáo xứ, địa phận, đất nước và cả Giáo Hội được Đức Mẹ che chở cho khỏi bao tai ương nguy khốn. Và rất nhiều người thuộc các tôn giáo khác cũng kính mến và kêu xin Đức Mẹ vì họ cũng được ơn cưú giúp. Vậy bởi lẽ nào mà Người có quyền năng cả thể làm vậy?