8- NHỮNG ĐOẠN KHÓ HIỂU TRONG PHÚC ÂM

10 Tháng Hai 20164:56 CH(Xem: 1969)
8- NHỮNG ĐOẠN KHÓ HIỂU TRONG PHÚC ÂM

                                                              

                                                                             8- NHỮNG ĐOẠN KHÓ HIỂU TRONG PHÚC ÂM.

        Nhiều người đọc Phúc Âm thấy những câu xem ra khó hiểu, sai sót, nghịch lý, mâu thuẫn, nên không tin đó là Lời Chúa, không tin Chúa Giê-su là Thiên Chúa. Cũng có người tin Phúc Âm, tin Chúa Giê-su nên cho là tại "Tam sao thất bản", hoặc tại phong tục Do-thái khác lạ... Thật ra, Phúc Âm Chúa Giê-su, những từ, những câu, những đoạn có vẻ khó hiểu, lẩm cẩm lại là những điều cốt lõi quan trọng. Ở đây chỉ bàn đến những câu khó hiểu nhất mà chưa từng được giải thích, hoặc giải thích chưa thỏa đáng.

        1 BÀ
        Tiệc cưới Ca-na đang vui thì hết rượu, Mẹ Chúa Giê-su đến nói với Người: "Họ hết rượu rồi."  Chúa Giê-su trả lời: "Hỡi Bà, giữa tôi với Bà nào có can chi ? Giờ tôi chưa đến." (Ga 2, 1-11).
       Giờ lâm chung trên thập giá, khi thấy Đức Mẹ đứng bên thánh Gio-an, Chúa Giê-su thưa cùng Mẹ Người: "Hỡi Bà, này là con Bà." (Ga 19, 25-27). 
       Trước tiên chúng ta thấy tính trung thực của Phúc Âm, vì có thể chính thánh Gio-an cũng thấy điều này khó hiểu, nhưng nghe Chúa nói thế nào thì ngài viết lại đúng như vậy, không mảy may thay đổi, và các nhà dịch soạn Phúc Âm cũng thắc mắc khó hiểu mà không hề dịch khác đi chút nào.

       Câu "Họ hết rượu rồi" của Đức Mẹ rất tự nhiên,làm như Chúa Giê-su có một kho rượu kế bên vậy, điều này cho thấy Đức Mẹ sau ba mươi năm chung sống với Chúa Giê-su và được ơn Chúa Thánh Thần soi sáng nên đã biết Người quyền phép vô cùng: Có thể làm được tất cả mọi sự. Đối lại, Chúa Giê-su biết Đức Mẹ có nguồn công phúc cao cả vô tận, sẽ được thưởng chức vị cao trọng vinh hiển trên trời, cho nên BÀ là từ ngữ xưng hô giữa Chúa tể trời đất, với Đấng có quyền thế trên các thiên thần và các thánh, vì BÀ là Mẹ Thiên Chúa, vì không có Bà nhân loại không có Chúa Cứu Thế và không được cứu chuộc. Chữ BÀ chỉ được xưng hô trong sự kiện đặc biệt quan trọng: Đức Mẹ đang can thiệp vào Đại Cuộc Cứu Độ của Chúa Giê-su Ky-tô, vì như Chúa đã nói: "Giờ tôi chưa đến" và thánh Gio-an ghi rõ: "Chúa Giê-su đã làm phép lạ đầu tiên này tại xứ Ga-lê-li-a, và đã tỏ vinh quang Người và các môn đệ Người đã tin Người": Phép lạ đầu tiên, sự việc quan trọng đó đã khai mạc sứ mạng cứu chuộc nhân loại, dù chưa đến giờ Chúa muốn khởi sự, nhưng vì sự nài ép của Đức Mẹ để cứu giúp người khó khăn thiếu thốn mà buộc Chúa phải thay đổi kế hoạch, thay đổi việc khởi sự việc rao giảng trước thời gian dự định.
        Trong giờ lâm chung của Chúa Giê-su trên thập giá, tiếng xưng BÀ là từ ngữ xưng hô của Vua vũ trụ với Nữ Vương Thiên Đàng, trong một sự kiện vô cùng trọng đại là trối trăn trao phó, để nhân loại có một Người Mẹ với nguồn công phúc vô tận, có quyền năng thần thế mà cứu giúp, bênh vực, chở che con cái gian trần. Cho nên chính chữ BÀ giúp chúng ta hiểu việc trối trăn trên thập giá của Chúa mang tính chất trọng đại cả thể, vì nếu Chúa Giê-su chỉ đơn thuần trối Đức Mẹ cho thánh Gio-an bảo bọc thì Chúa chỉ dùng chữ "Mẹ".

        2-RẮN KHÔNG KHÔN.
       Mt 10, 16: "Này Thầy sai các con đi như những CON CHIÊN giữa SÓI RỪNG: vậy các con hãy ở khôn ngoan như CON RẮN và đơn sơ như BỒ CÂU."
       Rắn là loài đần độn so với các loài vật, nhưng có nọc độc lại lẩn khuất chui rúc bụi bờ, Chúa Giê-su cũng như thánh Gio-an Tẩy Giả và cả Cựu Ước đã dùng từ "con rắn" để chỉ kẻ độc ác tội lỗi, như có lần Chúa Giê-su đã chỉ mặt các luật sĩ: "Hỡi loài mãng xà, nòi rắn độc làm sao các ngươi thoát khỏi án phạt hỏa ngục được." Nhưng Chúa lại khuyên chúng ta khôn như rắn, như thế Chúa bảo chúng ta bắt chước kẻ tội lỗi sao? Không phải, vì Chúa Giê-su đã kể dụ ngôn "Tên đầy tớ bất lương" và kết luận: "Con cái thế gian(tức là kẻ tội lỗi, là con rắn) khôn ngoan hơn con cái sự sáng trong việc cư xử với đồng loại."
       Vậy trong một câu vắn gọn, Chúa Giê-su đã dùng tới bốn con vật để sánh ví với người hiền kẻ dữ, người tốt lành kẻ ác độc và căn dặn các môn đệ là các ông sẽ phải tiếp xúc với nhiều kẻ dữ dằn cay độc, nên phải hết sức khôn khéo dù vẫn hiền lành ngay thật.
        3- KHÔNG CÓ GÌ CHE GIẤU MÀ KHÔNG BỊ TỎ LỘ.
       Mt 10, 26: "Vậy các con đừng sợ người ta. Thật ra không có gì che giấu mà không bị tỏ lộ, không có gì bí mật mà người ta sẽ không biết."
       Hằng ngày người ta nói dối, làm những điều trái phép, bất công, gian trá, độc ác hàng tỷ, mà chỉ một phần rất nhỏ bị bắt quả tang hay bị phanh phui, còn tất cả đều êm đềm đi vào quên lãng, vậy mà Chúa Giê-su lại nói rằng không có gì che giấu mà không bị tỏ lộ?
       Đó là Chúa Giê-su nói về Định Luật "Trả hết đồng xu cuối cùng": "Các ngươi hãy mau mau dàn xếp với đối phương ngay trên đường đi với người ấy đến của công, kẻo người ấy sẽ nộp ngươi cho quan tòa, quan tòa sẽ giao ngươi cho thuộc hạ, và ngươi sẽ bị tống ngục. Ta bảo thật cho các ngươi biết: ngươi sẽ không ra khỏi nơi đó trước khi trả hết đồng xu cuối cùng.": có nghĩa là tất cả những điều xấu xa tội lỗi chúng ta làm dù lớn dù rất nhỏ, chỉ có thể che giấu được thế gian, nhưng với Thiên Chúa thì chúng ta không thể mảy may che giấu được điều gì, mà phải đền bù tất cả, và nếu chúng ta không đền bù thanh toán ngay ở đời này thì sẽ có ngày chúng ta phải bị tính sổ đúng theo định luật của Chúa, cho nên ai làm điều trái phép mà bị bắt, bị lộ ngay, là điều may mắn để khỏi phải trả cả vốn lẫn lời.
        4-NGƯỜI GIẦU KHÓ VÀO NƯỚC THIÊN CHÚA.
       Khi Chúa Giê-su khuyên người giầu có nọ hãy bán hết những gì anh ta có để phân phát cho người nghèo, rồi hãy đến theo Chúa, thì anh ta buồn bã bỏ đi, và Chúa phán: Mt 10, 25: "Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giầu vào nước thiên đàng."
       Rất nhiều người giầu có đâu có làm gì sai trái, tiền bạc tài sản của họ là của ông bà cha mẹ để lại, hoặc may mắn, tài giỏi tạo bởi công sức của họ. Vậy tại sao Chúa lại khắt khe như vậy, lòng tốt của Chúa ở đâu?
       Thưa vì ngoài Định Luật "Trả hết đồng xu cuối cùng", lại còn Đinh Luật cao hơn là "Nhận nhưng không thì hãy cho đi nhưng không" ("Được cho nhiều thì sẽ bị đòi nhiều"): chỉ đơn giản là người giầu có được sung sướng thoải mái, được nể nang trọng vọng, bẩm bái, xu nịnh, tâng bốc, lạ gì thói chuộng tiền của ở đời...  Mà hằng ngày họ đã NHẬN quá nhiều, thì đâu còn cơ hội, đâu còn thời gian nữa để mà CHO đi, cho nên người giầu có đôi khi còn khó vào Nước Trời hơn cả kẻ tội lỗi, vì kẻ tội lỗi còn có cơ hội đền bù bằng những thiếu thốn, nghèo hèn, nhục nhã, khổ đau... Còn người giầu có thì lại không có những thứ đó.
       5- ĐỐI VỚI THIÊN CHÚA MỌI SỰ ĐỀU CÓ THỂ.
     Sau khi Chúa phán: "Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giầu vào nước thiên đàng" thì các môn đệ Chúa kinh ngạc: Mc 10, 26-27: "Các ông càng sửng sốt hơn nữa và nói với nhau: "Thế thì ai có thể được cứu?" Chúa Giê-su nhìn thẳng các ông mà nói: "Đối với loài người thì không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa thì không phải thế, vì đối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể được."
     Câu này rất khó hiểu, nhiều người tưởng Chúa nói "Đối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể" là lòng Chúa khoan dung nhân hậu vô cùng nên Người sẽ xí xóa hết thảy. -Không phải như vậy, nếu cả như lòng xót thương của Chúa mà không vướng những định luật thì cả thế gian này đều được vào nước thiên đàng, mà Chúa cũng không phải xuống thế làm người. Nhưng Chúa chỉ làm được mọi sự trong các định luật của Người, trong đó có Định Luật "Có mới được cho" là kẻ nào CÓ lòng đạo hạnh tốt lành thường thì Chúa CHO sự gìn giữ để khỏi phải trở nên giầu có. còn kẻ nào có chút tiền của mà còn CÓ lòng đạo hạnh nhân đức trong ân nghĩa Chúa, thì Người CHO là tìm mọi cách gửi những mất mát này, xui xẻo nọ, hoặc những đau đớn tinh thần, tình cảm...  Hàng ngày hàng giờ (Nhưng phải CÓ mới được Chúa CHO) để bù đắp những dư giả sung túc. Chỉ có cách đó người giầu mới hy vọng vào được Nước Trời.
       6- CHÚA GIÊ-SU BẢO PHẢI THỰC HIỆN TỪNG CHẤM TỪNG PHẾT TRONG BỘ LUẬT ?
     Mt 5, 18-19: "Vì Ta bảo thật các con,cho dù trời đất có qua đi, thì một chấm một phết trong Bộ luật cũng không bỏ sót cho đến khi mọi sự hoàn thành. Bởi vậy, ai hủy bỏ một trong những điều luật nhỏ mọn nhất và dạy người khác làm như vậy sẽ là người nhỏ nhất trong Nước Trời, trái lại ai giữ và dạy người ta những điều đó, sẽ được coi là người cao cả trong Nước Trời."
       Đoạn trước đó Chúa đã phán: Mt 5, 17: "Các con đừng tưởng Ta đến để hủy bỏ Lề Luật hay các tiên tri: Ta đến không để hủy bỏ nhưng để kiện toàn." Và hãy đọc Mt 5, 21-48 xem Chúa Giê-su "kiện toàn" như thế nào, chẳng hạn đoạn 43-44: "Các con đã nghe dạy rằng 'Hãy yêu thương tha nhân và ghét thù địch', còn Thầy, Thầy bảo các con 'Các con hãy yêu thương thù địch các con, hãy làm lành cho kẻ ghét các con, và cầu nguyện cho những kẻ vu khống và bắt bớ các con." Rõ ràng là Bộ Luật có nhiều khác biệt, thậm chí ngược lại với Giáo Huấn Chúa Ky-tô. Vậy nói  "Một chấm một phết" là cách nói chữ mà Chúa căn dặn chúng ta hãy bảo tồn gìn giữ Bộ Luật chính xác y nguyên như vậy, không được phép thay đổi, sửa chữa, cắt xén chút nào, để nhờ còn nguyên vẹn mà chúng ta có thể tra dò, tìm kiếm, phân tích tỷ mỉ "Từng chấm từng phết" hầu tìm thấy những điều khôn ngoan, cần thiết, quý giá, quan trọng trong Bộ Luật như Giáo Hội đã và đang thực hiện: MK 15: "Các Ky-tô hữu phải thành kính đón nhận các sách Cựu Ước, vì các sách này diễn tả một cảm thức sâu sắc về Thiên Chúa, TÀNG TRỮ những lời giáo huấn cao siêu về Người, những tư tưởng khôn ngoan về đời sống con người, những kho tàng tuyệt diệu, và sau cùng, ẨN CHỨA mầu nhiệm cứu rỗi chúng ta."
       7- NGƯỜI BIỆT PHÁI VÀ LUẬT SĨ CÔNG CHÍNH ?
       Phúc Âm Chúa Giê-su theo thánh Mát-thêu Chương 5, từ 1 đến 48, trong đó có đoạn 20: "Nếu các con không công chính hơn các luật sĩ và Biệt Phái thì các con chẳng được vào Nước Trời đâu." Vậy những người đó công chính lắm sao?
       Nếu các luật sĩ và Biệt phái công chính thì Chúa Giê-su đã kết thân với họ và không lên án họ như Mt 23, 1-36, chẳng hạn trong đó có đoạn: "Khốn cho các ngươi hỡi những luật sĩ và Biệt Phái giả hình, vì các ngươi giống như mồ mả tôi vôi, bên ngoài có vẻ tốt đẹp, nhưng bên trong đầy xương người chết và mọi thứ nhơ nhớp." Hoặc: "Các ngươi cũng thế, bên ngoài các ngươi có vẻ là người công chính, nhưng bên trong các ngươi, đầy sự giả hình và gian ác." Và Chúa Giê-su còn nói với dân chúng và các môn đệ: "Các luật sĩ và Biệt Phái ngồi trên tòa Mô-sê mà giảng dạy. Vậy tất cả những gì họ nói, các con hãy làm, hãy giữ, còn những việc họ làm thì đừng có làm theo vì họ nói mà không làm." Cho nên Chúa Giê-su dạy chúng ta phải công chính hơn các luật sĩ và Biệt Phái là công chính hơn nguyên tắc luật lệ của họ, vì chúng ta thấy ngay sau đó, Chúa Giê-su so sánh nguyên tắc luật lệ của họ với nguyên tắc luật lệ của Người. Đúng hơn, Chúa Giê-su dạy chúng ta phải công chính hơn những điều luật sĩ và Biệt Phái giảng dạy về Luật Mô-sê như câu trên: "Các luật sĩ và Biệt Phái ngồi trên tòa Mô-sê mà giảng dạy... .": Ngồi trên tòa Mô-sê là dạy luật Mô-sê. 
         8- NGÀY CÁNH CHUNG.                                                                                                                                                                                                                Đọc Mt 24, 1-51, Mc 13, 1-37 và Lc 21, 5-36 : Đã nói rằng trong Phúc Âm Chúa Giê-su Ky-tô, thì những đoạn mâu thuẫn, nghịch lý, khó hiểu nhất, lại gồm những điều cốt lõi quan trọng nhất, thì chương này có nhiều điều vô lý, lôi thôi, luộm thuộm, không đầu không đuôi nhất. Vậy đây là cách Chúa Giê-su và Chúa Thánh Thần dùng để tiên báo những điều rất quan trọng, nhưng không tiết lộ rõ ràng để chỉ ai được soi sáng thì mới hiểu.
        Chúa Giê-su nói đến việc Giê-ru-sa-lem bị tàn phá, thì đối với các tông đồ và người Do-thái thời đó, là điều không thể tưởng nổi, mà coi đó như ngày tàn của thế giới, nên nhân đó họ mới hỏi Chúa về "Ngày cánh chung", và trong cả ba chương của Phúc Âm nhất lãm nói về ngày cánh chung thật là "không đầu không đuôi", nhưng hãy để ý câu Chúa phán: "Điều Thầy nói với các con đây, Thầy cũng nói với hết thảy mọi người là phải canh thức." Có nghĩa rằng Người tiên báo những điều quan trọng sẽ xảy ra khắp nơi, từ đó tới tận thế. Cho nên chúng ta tìm thấy có tới ba "Ngày chung tận", mà nếu lẫn lộn, chúng ta sẽ nghi ngờ.
        Thứ nhất là "Ngày chung tận của Giê-ru-sa-lem: "Thế hệ này sẽ chẳng qua đi trước khi mọi điều ấy xảy ra." Chúng ta thấy sau đó thành Giê-ru-sa-lem bị tàn phá khốc liệt bình địa.
         Thứ hai là "Ngày chung tận của mỗi người chúng ta: "Vậy các con hãy sẵn sàng, vì lúc các con không ngờ, Con Người sẽ đến." Chúng ta thấy rõ nghĩa hơn của "Con người sẽ đến" là giờ sau hết của mỗi người: Mt 10, 23: "Khi người ta bắt bớ các con trong thành này thì hãy trốn sang thành khác. Thầy bảo thật các con: các con chưa đi hết các thành của Is-ra-en thì Con Người đã đến."
          Thứ ba là "Ngày chung tận" của toản thể nhân loại: "Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người ngự đến trên đám mây với đầy quyền năng và vinh quang." Cả ba thứ "Ngày chung tận" này, Chúa Giê-su nói giằng chéo, đảo lộn, cho thành không đầu không đuôi để không tiết lộ rõ ràng.
       Và còn những câu vô lý khó hiểu: 
       a-"Còn về ngày giờ đó thì không ai biết được, dù là các thiên thần trên trời, dù là Chúa Con, trừ ra Chúa Cha." Đó là Chúa nói về ngày tận thế, việc này các thiên thần có thể cho rằng không biết, nhưng Chúa Cha và Chúa Con là một và quyền năng thông biết như nhau, thì tại sao Chúa Giê-su lại nói rằng Chúa Con không biết?
       -Câu này có nghĩa rằng Chúa Giê-su không tiết lộ chính xác ngày giờ đó, và các thiên thần cũng không được phép báo trước ngày giờ đó,  vì nếu Chúa Giê-su không biết thì tại sao Người lại xác định: "Nhưng trước hết Phúc Âm phải được rao giảng cho mọi dân tộc." Hoặc "Những sự việc ấy phải xảy ra nhưng chưa phải tận thế đâu." Vậy thì Chúa Giê-su biết nhưng Người không tiết lộ chính xác giờ nào, ngày nào.
      b-"Ngay sau những ngày khốn khó đó thì mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng sẽ mất sáng, các tinh tú từ trời rơi xuống, và các quyền lực trên trời sẽ bị lay chuyển." Đây là đoạn Chúa Giê-su tiên báo về ngày tận thế, có người vội cho rằng Chúa Giê-su là Thiên Chúa mà không biết gì về khoa học cả: làm sao mặt trăng mặt trời lại có thể mất sáng được? Nhất là việc "Các tinh tú từ trời rơi xuống" thì làm như Chúa Giê-su tưởng các vì sao là những chấm sáng gắn vào nền trời như ông bà ta xưa kia lầm tưởng!
       Chúng ta biết, hiện nay các nhà khoa học đang lo âu vê sự kiện có thể làm nổ tung trái đất, là một cuộc chiến tranh nguyên tử toàn cầu, nhưng xét thật kỹ thì dù tất cả những trái bom nguyên tử trong các kho vũ khí có được cho nổ cùng một loạt, trái đất cũng chẳng hề hấn gì, và cho dù bụi phóng xạ có phủ kín mặt đất, nhân loại cũng không thể bị hủy diệt hoàn toàn.
       Hai nữa, các nhà khoa học dự đoán rằng mặt trời chỉ đủ năng lượng để chiếu sáng năm tỷ năm nữa là sẽ nổ tung như những vì sao già đang chết dần trên không gian, và vũ trụ chỉ đủ năng lượng để tồn tại khoảng 15 tỷ năm nữa mà thôi. Điều này xa xôi quá và chỉ là mối lo của người có tính hay lo.
       Thứ ba, chúng ta hãy lưu ý câu nói của Chúa: "Các quyền lực trên trời sẽ bị lay chuyển.": Như chúng ta thấy trên không gian luôn có sự đâm chạm, bùng nổ giữa các thiên hà, các vì sao, các hành tinh, vệ tinh và các khối thiên thạch. Chính các nhà khoa học cũng đang lo ngại một ngày nào đó sẽ có một hành tinh "lạc lối" tiến thẳng về phía chúng ta, hoặc một khối thể khổng lố ngàn vạn thiên thạch và cát bụi đất đá chụp xuống trái đất. Nếu phát hiện trước chừng mười năm, mà với trình độ khoa học nhân loại thì không có cách nào cứu chữa. Người ta dự trù nếu việc đó xảy ra, liệu có thể dùng toàn bộ trữ lượng nguyên tử năng vào việc phá hủy hành tinh đi lạc hoặc những khối thiên thạch đó hay không? Nhưng xét ra làm cách ấy cũng như lửa đổ thêm dầu: những hỏa tiễn mang đầu đạn nguyên tử chẳng những không phá hủy được hành tinh đi lạc hoặc các khối thiên thạch mà còn tạo nên nhiều thiên thạch, đất đá, cát bụi hơn, và trái đất càng trở nên mục tiêu dễ dàng hơn. Và nếu ngày nào đó người ta biết thế giới sẽ bị tiêu diệt cách rõ ràng như thế, thì chúng ta hãy tưởng tượng xem cảnh nổi loạn, cướp phá, giết chóc... Của những kẻ điên loạn trong cơn tuyệt vọng, mà nhân loại sẽ gặp cơn đại tai đại họa, khốn khổ khốn nạn đến mức nào! Có phải đó chính là "Những ngày khốn khó" không? Những ai có dịp ngắm nhìn những vì sao chổi với cái đuôi lung linh sáng láng, nhưng nếu số lượng đất đá cát bụi rộng dài hàng trăm, hàng ngàn dặm đó chụp xuống trái đất thì giờ đó sẽ vô cùng tối tăm: "Mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng sẽ mất sáng." Sau đó đến lượt những khối thiên thạch hàng trăm ngàn tấn với tốc độ hàng trăm ngàn cây số giờ phóng thẳng vào trái đất: "Các vì tinh tú từ trời rơi xuống": trái đất sẽ nổ tung như một trái bom nguyên tử khổng lồ và nhân loại hoàn toàn bị tiêu diệt...  Ngày chung tận có thể xảy ra tương tự như thế hay không?
       c-Mc 24, 30-31: "Lúc bấy giờ dấu hiệu của Con Người sẽ xuất hiện trên trời; bấy giờ mọi dân tộc sẽ khóc than và sẽ nhìn thấy Con Người ngự trên mây trời với đầy quyền năng và uy nghiêm. Người sẽ sai các thiên thần của Người đi thổi loa vang dội, quy tụ những người đã được tuyển chọn từ khắp bốn phương, từ chân trời cho tới cuối trời.": Như đoạn này thì trái đất không hề bị tan vỡ hay bị tàn phá, và nhân loại sẽ sống vĩnh cửu trên trái đất này, bằng chứng là có câu: "Từ chân trời cho tới cuối trời".
       Nếu chúng ta hy vọng một cuộc sống mới trên trái đất này, cho dù Chúa có cách làm cho nó tuyệt đối thơ mộng hiền hòa, thì hy vọng ấy thật quá tầm thường. Nhưng Chúa Giê-su đã xác định: "Trời đất sẽ qua đi..." và các nhà khoa học cũng đã nhận ra rằng vũ trụ chỉ đủ năng lượng để kéo dài tuổi thọ chừng 15 tỷ năm hoặc hơn chút nữa, mặt trời cũng chỉ mấy tỷ năm nữa rồi cũng bục nổ phần ngoài rồi nguội lạnh, trái đất không nổ chung với mặt trời thì cũng băng giá không sinh vật nào sống nổi... Nhưng năm tỷ năm, mười tỷ năm, và cho dù trăm, ngàn, triệu tỷ năm chăng nữa cũng chỉ là số không so với cuộc sống đời đời. Và chúng ta hy vọng sống lại trong cái thân xác bé nhỏ phàm hèn này thì hy vọng đó quá nhỏ nhoi. Nhưng như lời Chúa Giê-su thì chúng ta sẽ được "Làm con Thiên Chúa", "Như các thiên thần trên trời", "Người lành sẽ sáng như mặt trời trong nước của Cha họ." Vậy sống lại là chúng ta sẽ trở thành những sinh linh trong thế giới siêu vật thể, chúng ta sẽ được gia nhập vào hàng thần thánh trong thế giới thần linh của Thiên Chúa. 
       
       d- Mt 24, 15: "Vậy khi các con thấy đặt trong nơi thánh ĐỒ-GHÊ-TỞM-KHỐC-HẠI mà ngôn sứ Đa-ni-en đã nói đến-Người đọc hãy lo mà hiểu."
       -Chúng ta thấy rõ nghĩa hơn: Mc 13, 14: "Khi các con thấy ĐỒ-GHÊ-TỞM-KHỐC HẠI đứng ở chỗ nó không được phép đứng": cho chúng ta hiểu "Đồ ghê tởm khốc hại" là những việc xúc phạm đến Thiên Chúa cách lớn lao gở lạ, thành trào lưu, thành tổ chức to lớn. Cho nên Chúa không nói riêng Giê-ru-za-lem lúc đó, mà trong mọi thời mọi nơi, mọi vùng miền, mọi quốc gia, dân tộc... Có những phong trào, học thuyết, những mưu đồ ngông cuồng ngang ngược xúc phạm đến Chúa, đều là những điềm báo trước những cơn đại họa sẽ giáng xuống, mà thiên hạ khó tránh họa lây, như bao cuộc chiến tranh, bao thiên tai địch họa khủng khiếp từng xảy ra.
       e- Mt 24, 23-24: "Lúc bấy giờ có ai bảo các con: "Này Đức Ky-tô ở đây" hoặc "Ở đàng kia" các con đừng có tin. Thật vậy, sẽ có những ky-tô giả và ngôn sứ giả xuất hiện đưa ra những dấu lạ lớn lao và những điềm thiêng, đến nỗi chúng lừa gạt được cả những người đã được tuyển chọn nếu có thể."
       Đoạn này, thường chúng ta tưởng đến thời sau hết sẽ có những kẻ tự xưng là Giê-su hoặc xưng là tiên tri. Nhưng Chúa Giê-su tiên báo những việc lạ lùng của mọi thời đại, cho nên ngay thời thánh Phao-lô: Rô-ma 16, 17-18: "Thưa anh em, tôi khuyên nhủ anh em hãy coi chừng những kẻ gây chia rẽ và làm cớ vấp ngã, vì đi ngược lại với đạo lý anh em đã học hỏi, anh em hãy xa lánh họ. Hạng người đó chẳng phục vụ Đức Ky-tô, Chúa chúng ta mà phục vụ chính cái bụng của mình. Họ dùng những lời ngọt ngào nịnh bợ mà quyến rũ những linh hồn đơn sơ." Vậy tiên tri giả là những người giảng giải Kinh Thánh Cựu Ước cách thiên lệch để được thiên hạ tôn vinh ca tụng mà phục vụ lợi ích cá nhân họ. Còn Ky-tô giả là những kẻ rao giảng Phúc Âm Chúa Giê-su Ky-tô không vì Chúa, mà để dụ dỗ lôi cuốn người ta phuc vụ lợi ích riêng mình. Và trải dài từ thời các tông đồ đến nay, càng ngày càng nhiều tiên tri và ky-tô giả xuất hiện, tất nhiên là đến thời sau hết chắc chắn sẽ xuất hiện những nhân vật vô cùng ghê gớm kỳ bí.  
       9-TẠI SAO CẦN PHẢI CÓ GƯƠNG XẤU ?
      Mt 18, 7: "Khốn cho thế gian vì những gương xấu! ĐÃ HẲN CẦN PHẢI CÓ GƯƠNG XẤU, nhưng khốn cho kẻ nào gây ra gương xấu."
        Gương xấu tràn ngập thế gian, tại sao Chúa không trừ diệt cho nhân loại bớt tội lỗi, mà lại nói là cần phải có gương xấu?
        Nhưng Chúa Giê-su đã đặt tiêu chuẩn rất phải lẽ như: "Vì nếu các con yêu thương kẻ yêu thương mình, thì có ân nghĩa gì đâu? Ngay cả người tội lỗi cũng yêu thương kẻ yêu thương họ." Cho nên nếu thế gian này ai cũng hiền lành đạo đức, thì việc tốt gương tốt của chúng ta chẳng mấy giá trị, mà càng nhiều gương xấu để chúng ta thắng vượt được thì càng tạo được công nghiệp để nên thánh, như Chúa Giê-su đã ngỏ cùng bà Mar-ga-ri-ta: "Điều làm nên giá trị cho các vị thánh của Cha không phải là sự thánh thiện của họ. Vì mọi thánh thiện đều thuộc về Cha. Điều làm nên giá trị cho các vị thánh chính là sự cố gắng mà họ theo đuổi để đạt tới thánh thiện." Thế gian càng tội lỗi thì việc thực hành Lời Chúa càng giá trị lớn lao. Thế gian càng nhiều gương xấu mà chúng ta còn giữ được luật Chúa thì càng có công phúc gấp bội. Nếu biết rõ Định Luật "Nhận nhưng không thì hãy cho đi nhưng không" ("Được cho nhiều thì sẽ bị đòi nhiều") thì nói một cách đích đáng rằng: Nếu thế gian không có gương xấu, hoàn toàn lành thiện không có sự dữ và chúng ta có giác quan để nhận biết Chúa mà không cần đến đức tin, thì chúng ta có sống tốt lành suốt đời cũng không tạo được công phúc để vào được Nước Trời, vì chúng ta NHẬN quá nhiều mà lại không có công phúc của đức tin và công phúc của việc xa lánh gương xấu.
       10- CÓ MỚI ĐƯỢC CHO.
       Mt 13, 10-13: "Các môn đệ đến gần thưa với Người rằng: "Tại sao Thầy lại dùng dụ ngôn mà nói với họ?" Người đáp lại: "Về phần các con, đã cho biết các mầu nhiệm Nước Trời, còn họ thì không cho biết. Vì ai đã có thì ban cho họ được có dư dật; còn kẻ không có thì cái họ có cũng bị lấy đi."
       Sao Chúa lại phân biệt đối xử với kẻ khác? Tại sao có lại còn được cho thêm? Tại sao không có mà còn bị lấy đi? Chúa lẽ nào bất công?
       Như đã nói trong "Những Định Luật Siêu Nhiên" thì CÓ MỚI ĐƯỢC CHO là một trong ba định luật mà Thiên Chúa đã tạo dựng trước khi tạo dựng trời đất. Nên dù muốn cứu rỗi toàn thể nhân loại, dù muốn mọi người nghe lời Chúa phải hiểu mà tin Chúa để được cứu, nhưng vì định luật đó nên bắt buộc Chúa phải dùng dụ ngôn hoặc nói xa nói bóng, rồi tùy sự CÓ công phúc của mỗi người mà CHO sự soi sáng để họ hiểu.
       11 - THIÊN CHÚA CỦA KẺ SỐNG ?
       Lc 20, 37-38: "Còn vấn đề kẻ chết sống lại, thì Mô-sê đã cho biết trong đoạn nói về bụi gai, khi ông gọi Chúa là Thiên Chúa của Ab-ra-ham, Thiên Chúa của I-sa-ác, và Thiên Chúa của Gia-cóp. Thiên Chúa không phải Thiên Chúa của kẻ chết mà là của kẻ sống và mọi người đều sống cho Chúa.
       -Cũng như Chúa Giê-su nói: "Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết": Có nghĩa rằng chỉ có nhũng ai theo Chúa, sống trong ơn nghĩa Chúa, được cứu rỗi và sống trong Nước Chúa mới là SỐNG. Còn những ai không theo Chúa, mất ơn nghĩa cùng Chúa, mất phần rỗi, thì dù sống cũng như là đã chết, dù cũng sống lại "Nhưng sống lại để bị luận phạt."
      12-XEM THẤY VÀ ĐUI MÙ .
       Sau khi chữa lành một người mù từ khi mới sinh, Chúa Giê-su phán: Ga 9, 39-41: "Ta đến thế gian này chính là để xét xử để những kẻ không xem thấy thì được xem thấy và những kẻ xem thấy sẽ trở nên mù." Những người Biệt Phái có mặt ở đó liền nói với Người rằng: "Thế ra chúng tôi mù cả ư?" Chúa Giê-su đáp: "Nếu các ngươi mù thì các ngươi đã không mắc tội. Nhưng ở đây các ngươi nói 'Chúng tôi thấy' nên tội các ngươi vẫn còn."
      Nhân việc làm cho người mù được thấy, Chúa muốn ám chỉ đui mù và xem thấy về phần linh hồn. Cho nên đui mù được xem thấy là những kẻ nhận ra mình tội lỗi mà ăn năn thống hối để trở nên công chính là được thấy. Ngược lại những kẻ tự cho mình là trong trắng cao cả mà thật ra tội lỗi ngập đầu, thì không được ơn tha thứ, như Chúa đã kể dụ ngôn người thu thuế và người Pha-ri-siêu cầu nguyện: người thu thuế nhận ra mình tội lỗi, đấm ngực ăn năn thì được tha thứ mà nên công chính, còn người Pha-ri-siêu tự cho mình là 'công chính thánh thiện' nên TỘI CÒN ĐÓ, cũng như chinh trong đoạn trên Chúa Giê-su nói: "Nhưng ở đây các ngươi nói 'Chúng tôi thấy' nên TỘI CÁC NGƯƠI VẪN CÒN."
       13- CHÚA HỨA GÌ Ở THẾ GIAN ?
       Mc 10, 28-30: "Phê-rô thưa cùng Người rằng: "Phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy." Chúa Giê-su trả lời rằng: "Thầy bảo thật các con, chẳng ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái, ruộng nương vì Thầy và vì Phúc Âm mà ngay bây giờ lại không được gấp trăm về nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái và ruộng nương cùng với sự bắt bớ, và đời sau được sự sống vĩnh cửu."
       Ở đời, vợ đẹp con khôn, nhà cao cửa rộng mà bị bắt bớ thì thà đừng có còn hơn, thế mà Chúa lại hứa cho gấp trăm nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái, ruộng nương CÙNG VỚI SỰ BẮT BỚ?!
       Có nghĩa rằng Chúa không hề hứa hẹn vinh hoa phú quý, vợ đẹp con khôn gì ở đời này cả, kẻ nào càng rắp tâm theo Chúa, càng trung thành giữ đúng luật Chúa thì càng nghèo càng khổ, vì thế gian này Chúa Giê-su là Vua đau khổ, Người đã từng chịu nghèo khổ suốt một đời rồi kết cục với cái chết vô cùng đau đớn thảm thương. Các thánh của Chúa cũng là "Những người đến từ những đau khổ lớn lao". Nhiều người hô hào theo Chúa để được vinh hoa phú quý ở đời này thì đừng nghe họ mà lầm. Quyền chức, bổng lộc, ung dung nhàn hạ, thoải mái hả hê, không phải là dấu hiệu của lòng thương xót Chúa. 
       Nhưng tất cả những gì thuộc về chúng ta như TÌNH, TIỀN, TÀI, DANH VỌNG, ĐỊA VỊ... Nếu chúng ta càng tham lam khao khát thì càng thiếu càng hụt, đã có rất nhiều mà bao giờ cũng muốn nhiều hơn đầy tràn hơn. Nhưng ngược lại, ở mọi môi trường địa vị, nếu chúng ta càng tự khép mình vào khuôn khổ thì càng thấy thoải mái dễ chịu hơn mọi người chung quanh, càng coi rẻ tiền bạc chúng ta càng cảm thấy thừa thãi dư giả, càng lánh xa công danh quyền chức chúng ta càng ung dung nhàn hạ, càng hãm dẹp xác thịt tình ái chúng ta càng thoải mái dễ chịu. Từ bỏ tất cả mà theo Chúa chúng ta sẽ được gấp trăm là theo ý này. Cho nên sau khi sống lại, Chúa Giê-su thường ban: "Bình an cho các con", đó là Chúa dùng công lao của cuộc tử nạn mà ban bình an trong tâm hồn cho những ai từ bỏ mọi sự mà theo Người. Còn bắt bớ ngược đãi là đau khổ nhục nhã mới là con đường Chúa dành cho chúng ta để tạo công phúc cơ nghiệp theo đúng các định luật của Chúa mà sẽ được hưởng cuộc sống hạnh phúc vĩnh cửu đời đời trong Nước Chúa.
       14- CHÚA CÓ ĐẾN SỚM VẬY KHÔNG ?
       Mt 10, 23: "Khi người ta bắt bớ các con trong thành này thì hãy trốn sang thành khác. Thầy bảo thật các con: Các con sẽ không đi hết các thành Is-ra-en thì Con Người đã đến." Câu này là một trong những câu làm nhiều người ngờ vực Phúc Âm Chúa, vì họ hiểu "Con Người đến" theo nghĩa "Ngày chung tận" của nhân loại, nên người ta đặt câu hỏi: Is-ra-en có bao nhiêu thành đâu mà giờ này Chúa vẫn chưa đến?
       Nhưng như đã thấy trong đoạn "Ngày cánh chung" thì "Con Người đến" có hai nghĩa, nghĩa thứ nhất là Con Người đến trong ngày sau hết: "Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người ngự đến trên đám mây với quyền năng và vinh quang." Và nghĩa thứ hai của Con Người đến là Chúa đến trong giờ sau hết của cuộc đời chúng ta: "Vậy các con hãy sẵn sàng, vì lúc các con không ngờ, Con Người sẽ đến." Cho nên đoạn Phúc Âm trên là Chúa báo cho các tông đồ biết: chẳng bao lâu nữa Chúa sẽ đón các ông về hưởng vinh quang với Người, ngoại trừ thánh Gio-an thì Người để sống lâu hơn, và Người đã nói xa xôi về việc đó: "Nếu Thầy muốn nó cứ ở lại mãi cho tới khi Thầy đến thì việc gì đến con? Phần con, con cứ theo Thầy." Như vậy Chúa cũng báo trước cách khéo léo là Người sẽ đến đón thánh Gio-an trễ hơn. Và thánh Gio-an đã "Ở lại" cho tới khi Chúa đến đón ngài.
       15-BAN NGÀY - BAN ĐÊM.
       Trước khi chữa lành một người mù từ lúc mới sinh, Chúa Giê-su phán: Ga 9, 4-5: "Chúng ta phải làm những việc của Đấng đã sai Thầy khi trời còn sáng; đêm đến, không ai có thể làm việc được. Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian."
        Ngày nay người ta làm ca hai, ca ba là làm đêm hết, vậy sao Chúa lại bảo ban đêm không làm việc được, hay Chúa không biết  trước được rằng thời đại này điện lực có thể biến đêm thành ngày sao?
        Ngay từ lần đầu Chúa về thăm quê, dân ở đó đã muốn xô Người xuống vực để giết Người, nhưng Người đã lách qua giữa họ mà đi, và trong suốt ba năm rao giảng, nhiều lần người ta muốn ném đá, muốn hãm hại, muốn bắt muốn giết Chúa nhưng Người đều thoát khỏi tay họ cách dễ dàng: "Ga 7, 30: "Bởi thế họ tìm cách bắt Chúa Giê-su nhưng không ai đụng đến Người, vì chưa tới giờ Người." Và trước khi phó mặc vào tay quân dữ, Chúa Giê-su đã phán: "Hằng ngày Ta ngồi trong Đền Thờ giữa các ngươi mà các ngươi không bắt Ta, nhưng bây giờ là giờ của các ngươi, giờ của quyền lực tối tăm." "Quyền lực tối tăm" là quyền lực của ma quỷ, do đó chúng ta hiểu Ngày là thời giờ, là giai đoạn Chúa Giê-su trong quyền lực Thiên Chúa, Người đầy quyền năng, Người trấn áp sự dữ, Người xua đuổi khử trừ ma quỷ, Người làm được mọi sự ngoài tầm với của khoa học. Nhưng "ban đêm" là giai đoạn Chúa nhường cho "quyền lực tối tăm", là lúc Đức Chúa Cha để Con Trai yêu dấu của Người hoàn toàn mất hết mọi quyền lực, và hoàn toàn trong tính con người, trong tính xác thịt để bị trao nộp vào tay kẻ hung ác tay sai ma quỷ, như thế Chúa Giê-su mới có cơ hội lập công trong đau khổ nhục nhã, trong cái chết vô cùng đau đớn thảm thương, mới đủ công trạng để đền bù cứu chuộc nhân loại cách dư dật từ khi có con người cho đến tận thế. 
       Và chúng ta hãy đọc đoạn sau đây, vì Lời Chúa Ky-tô thường câu này bổ ý câu kia, câu sau liên quan soi dẫn câu trước, đó là cách của Chúa Giê-su, cũng là cách của Chúa Thánh Thần, để chỉ những ai có đủ công đức, đủ điều kiện mới được Chúa soi dẫn để hiểu, soi dẫn để tin: Khi nghe tin La-za-rô đau nặng, Chúa Giê-su định trở về cứu anh thì các tông đồ tìm cách can ngăn vì trước đó người ta định ném đá Chúa, nhưng Người phán: "Ban ngày chẳng có mười hai giờ đó sao? Ai đi ban ngày thì không vấp ngã vì có ánh sáng của thế gian này. Còn ai đi ban đêm thì vấp ngã bởi không có ánh sáng nơi mình."
       "Mười hai giờ" là nhấn mạnh nghĩa chữ "Ban ngày" là thời giờ trong quyền lực Thiên Chúa. Và như Chúa đã phán: "Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian." Nên chúng ta mới hiểu nghĩa của câu trên là: Thời giờ Chúa Giê-su trong quyền lực của Người thì không có gì phải lo, vì chính Chúa Giê-su dùng quyền năng của Người mà bảo vệ, che chở nâng đỡ chúng ta khỏi sự dữ, khỏi sai phạm. 
       Còn "ban đêm" là giai đoan Chúa nhường cho quyền lực ma quỷ thì người ta sa ngã vấp phạm vì không có Chúa gìn giữ, soi sáng, thêm sức. Cho nên chúng ta thấy trước khi Chúa chịu nộp mình vào tay quân dữ, tức là còn đang trong giai đoạn quyền lực Thiên Chúa thì các tông đồ can đảm dũng mãnh, ai cũng quyết chí chiến đấu vì Chúa, như thánh Phê-rô đã dùng gươm chém một nhát chí tử xuống đầu tên đầy tớ thầy cả thượng phẩm, may mà hắn chỉ đứt tai. Ngược lại, quân dữ thì nhát đảm run rẩy sợ hãi, như khi Chúa phán: "này Ta" thì chúng kinh hoàng giật lùi té ngửa. Nhưng chỉ giây lát sau, đến thời của "quyền lực tối tăm" là lúc Chúa Giê-su không dùng quyền năng của Người để trợ giúp thì các tông đồ bỏ chạy tán loạn thừa sống thiếu chết, còn quân dữ thì hung dữ tàn ác vô độ vì Chúa Giê-su không dùng quyền lực của Người để trấn áp chúng. Và những kẻ reo hò đả đảo, đòi đóng đinh Chúa, thì không ai xa lạ mà chính là những kẻ từng đi theo Chúa, từng nghe Chúa giảng dạy những điều hay lẽ phải, từng chứng kiến Chúa chữa lành, những người từng được Chúa hóa bánh cho ăn no nê, từng trải lá đón rước, từng chúc tụng ngợi khen Chúa... Mà vì giờ phút trong quyền lực ma quỷ đó, không được Chúa soi lòng mở trí nên mới vấp phạm như vậy. Và ngay cả thánh Phê-rô lúc buổi tối từng thề thốt trung thành, thế mà đêm đó đã chối Chúa tới ba lần. 
       16- MA QUỶ CÁM DỖ CHÚA ?
       Nhân nói đến "Ngày" và "đêm", chúng ta bàn đến việc trong Phúc Âm có đoạn Chúa Giê-su bị quỷ cám dỗ: Mt 4, 1-11,     Mc1, 1-13, Lc 4, 1-13. Có thể chúng ta có những suy nghĩ rằng : Nếu Chúa Giê-su là Chúa cả trời đất thì quỷ phải biết mà trốn chạy thật xa, chứ sao lại dám đem Chúa lên núi, lên nóc Đền Thờ mà buông lời xúc phạm như vậy?
       Nhưng chính đoạn Chúa bị quỷ cám dỗ này lại thêm bằng chứng về nghĩa của chữ "Ngày" và "đêm": NGÀY là thời giờ Chúa Giê-su trong quyền lực của Thiên Chúa thì các ma quỷ khiếp sợ kinh hồn bạt vía, run rẩy trốn chạy, con các thiên thần chầu lậy hầu hạ và tuân hành mọi chỉ thị của Người. ĐÊM là lúc Chúa để cho ma quỷ có quyền lực, Chúa chịu mất hết quyền năng nên quỷ lộng hành xúc phạm, dám cám dỗ Chúa. Cũng như đến giờ Chúa chịu nạn chịu chết, Người vất bỏ mọi quyền lực Thiên Chúa và hoàn toàn mặc lấy tính xác thịt con người, như vậy Người mới có thể tạo nên công nghiệp. Cho nên trong lúc tận cùng đau đớn kiệt quệ trong thân xác của tính con người đó, Chúa Giê-su đã kêu lên cùng Chúa Cha: "Lạy Chúa tôi, lạy Chúa tôi, sao Chúa bỏ tôi!" Chính câu này , nếu không hiểu rõ ý của chữ "ngày" và "đêm" chúng ta có thể thắc mắc ngờ vực.
       17- CHÚA ĐẾN ĐEM GƯƠM GIÁO ?
       Mt 10, 34: "Các con chớ tưởng rằng Thầy đến để đem hòa bình cho thế gian: Thầy không đến để đem hòa bình, nhưng là để đem gươm giáo.":
       Suốt ba năm rao giảng, Chúa Giê-su không cho ai bất cứ của gì vật gì, nhưng Người chỉ có một câu: "Bình an cho các con" , thế mà Người lại nói :"Thầy không đến để đem hòa bình, nhưng là để đem gươm giáo."?
        -Bởi Lời Chúa khi được rao giảng đâu phải ai cũng răm rắp tin theo, đâu phải ai cũng hiểu hoàn toàn một ý một nghĩa, nhưng theo Định Luật "Có mới được cho" nên người ta chỉ được soi sáng tùy công phúc của mỗi người để họ hiểu, rồi lại tùy công phúc của mỗi người mà nâng đỡ để họ gắng công thực hiện. Còn những ai không có công phúc, không làm lành lánh dữ thì Chúa không thể; không được phép soi sáng trợ giúp, như Chúa đã phải dùng dụ ngôn hoặc nói xa xôi bóng gió, không đầu không đuôi, nơi này một chút, nơi khác một ý, để che mắt bịt tai họ. Cho nên Lời Chúa không khỏi gây nên những mâu thuẫn đối kháng giữa thiện ác, tốt xấu, trái phải, giữa cha mẹ con cái, anh chị em cho đến tận cõi lòng mỗi người, đọc đoạn tiếp sau đó sẽ thấy rõ: "Kẻ nào yêu mến cha mẹ hơn Thầy thì chẳng xứng đáng với Thầy, và kẻ nào yêu mến con trai con gái hơn Thầy thì chẳng xứng đáng với Thầy. Kẻ nào không vác thập giá mình mà theo Thầy thì không xứng đáng với Thầy." Tuân giữ Giáo Huấn của Chúa nhiều khi mất lòng người thân, nhưng nếu chiều lòng họ mà làm sai Lời Chúa thì không xứng làm môn đệ Chúa.
       Nhưng còn ý thứ hai là: Nếu Chúa ban cho chúng ta: vợ chồng, cha mẹ, con cái, anh chị em trên dưới hoàn toàn hòa thuận thì chúng ta NHẬN nhiều quá, lấy gì mà trả cho Chúa, và chúng ta nào có công phúc gì để làm vốn cho Nước Trời, cho nên Chúa không ban cho những kẻ Người yêu mến sự vui vẻ hòa thuận, bình an tuyệt đối, mà còn chừa cho chúng ta những hiểu lầm, bất đồng, mâu thuẫn... Giữa cả những người thân, để cuộc sống có những dằn vặt, giằng co mà tạo những đau khổ để đền tội và bù đắp những sung sướng thoải mái. Còn nếu chúng ta xa tránh được tội lỗi và không quá sung sướng dư giả, thì chúng ta sẽ có phúc rất lớn bởi sự nhường nhịn, thứ tha cho những vô lý bất công của những người thân cận. 
        18- CỦA THÁNH .
        Mt 7, 6: "Đừng lấy của thánh mà cho chó, đừng vất ngọc trai trước mặt heo kẻo chúng giày đạp dưới chân rồi quay lại cắn xé các con."
        Giáo Huấn Chúa Ky-tô vô cùng cao trọng quý giá ví như của thánh, ví như châu ngọc, vì Định Luật "Có mới được cho" nên Chúa không thể ban cho những kẻ tham lam gian ác không có công phúc ví như chó, như heo, mà Người phải dùng dụ ngôn hoặc nói xa xôi bóng gió để chỉ soi sáng cho những người chân thật tốt lành, có công phúc.
        19- LƯƠNG THỰC HẰNG NGÀY .
        Chúa Giê-su dạy chúng ta kinh Lạy Cha: Phần đầu là chúc tụng ngợi khen Chúa, phần hai là phần xin ơn, câu đầu của phần xin ơn là: "Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày": Thường chúng ta nghĩ việc nuôi sống là điều quan trọng nhất nên Chúa dậy phải xin điều đó trước tiên, nhất là những người thiếu thốn thì câu này quá tốt để cầu xin cho được no đủ, cũng có những người dư giả thì xin Chúa đừng cất sự no đủ ấy đi, cả hai lối nghĩ ấy đều tốt nhưng thật ra chưa đúng ý Chúa.
       Trước tiên phải nói chúng ta đã hiểu sai chữ "Lương thực" ngay từ phần mở đầu Cựu Ước: St 3, 17: "Ngươi sẽ phải cực nhọc mỗi ngày trong đời ngươi mới kiếm được MIẾNG ĂN từ đất mà ra." và St 3, 19: "Ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có BÁNH ăn.": Nghĩa của MIẾNG ĂN và BÁNH trong hai câu đó đều có nghĩa là sự lao nhọc vất vả tạo nên công phúc, nhờ đó Chúa mới có thể nuôi dưỡng thánh hóa linh hồn chúng ta. Cũng như Ga 6, 27: "Các ngươi hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh.": Là hãy dùng sự vất vả khó nhọc để tạo công phúc thì Chúa sẽ nhờ công phúc đó mà nuôi dưỡng linh hồn chúng ta. Và hãy đọc đoạn Kinh Thánh sau đây sẽ thấy rất rõ: Mt 6, 25-34: "Vì vậy Thầy bảo cho các con biết: đừng lo cho mạng sống: lấy gì mà ăn; cũng đừng lo cho thân thể: lấy gì mà mặc. Mạng sống chẳng trọng hơn của ăn, và thân thể chẳng trọng hơn áo mặc sao? Hãy xem chim trời: chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho; thế mà Cha của các con trên trời vẫn nuôi chúng. Các con lại chả quý giá hơn chúng sao? Hỏi ai trong các con có thể nhờ lo lắng mà kéo dài đời minh thêm được dù chỉ một gang không? Còn về áo mặc cũng thế, lo lắng làm gì? Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng mọc lên thế nào mà rút ra bài học: chúng không làm lụng, không kéo sợi; thế mà Thầy bảo cho các con biết: ngay cả vua Sa-lô-môn, dù vinh hoa tột bậc, cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy. Vậy nếu hoa cỏ ngoài đồng, nay còn, mai đã quăng vào lò, mà Thiên Chúa còn mặc đẹp cho như thế, thì huống hồ là các con, ôi những kẻ kém tin ! Vì thế các con đừng lo lắng tự hỏi: ta sẽ ăn gì, uống gì, hay mặc gì đây? Tất cả những thứ đó dân ngoại tìm kiếm. Cha các con trên trời thừa biết các con cần tất cả những thứ đó. TRƯỚC HẾT HÃY TÌM KIẾM NƯỚC THIÊN CHÚA VÀ ĐỨC CÔNG CHÍNH CỦA NGƯỜI, CÒN TẤT CẢ NHỮNG THỨ KIA NGƯỜI SẼ THÊM CHO. Vậy, các con đừng lo lắng về ngày mai: ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy.": Chỉ riêng đoạn này cũng đủ để cho chúng ta nhận ra câu Chúa Giê-su dạy chúng ta: "Xin Cha cho chúng con hôm nay LƯƠNG THỰC hằng ngày" là lương thực nuôi sống linh hồn, là công phúc của chúng ta nhờ làm lành lánh dữ, thực hành Lời Chúa, Thánh Lễ, kinh Mân Côi, ăn chay hãm mình... Được nhân lên gấp trăm nhờ công nghiệp Chúa Giê-su Ky-tô mà linh hồn chúng ta được nuôi dưỡng bằng Thịt Máu thật của Thiên Chúa, thì mới có thể "Sáng như mặt trời trong Nước Cha."
         Thật ra, phải xác định rằng: Sự thiếu thốn đói khát lại chinh là công phúc để Chúa dùng Thịt Máu Người mà nuôi dưỡng linh hồn chúng ta như "Ngày nào có nỗi khốn khó của ngày đó": là ngày nào Chúa cũng tìm cho những kẻ được Chúa yêu dấu cách riêng những đau khổ mà tạo công phúc để linh hồn được nuôi nấng bổ dưỡng. Còn như chúng ta lo lắng việc quá đói khát thiếu thốn thì hãy kêu xin Chúa trong câu: "Nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ."
          Tuy nhiên, điều này cũng không đến nỗi phải đặt thành vấn đề, cốt yếu là chúng ta cầu nguyện với lòng cậy trông phó thác và quy hướng về Chúa thì đã sinh nhiều công phúc lắm rồi, vì Thiên Chúa thông biết mọi sự và lo toan cho chúng ta cả linh hồn lẫn thể xác.
 
           20-SAO LẠI GỌI LINH MỤC LÀ CHA  ?
          Có người cho rằng người Công Giáo gọi linh mục là "cha" là làm sai, vì Chúa Giê-su dạy: không được gọi ai dưới đất là cha.
          Người Công Giáo gọi linh mục là "cha" thì nào có thấm gì so với việc linh mục được giơ tay ban phép lành, linh mục được truyền phép Thánh Thể, được ngồi tòa cáo giải để ban phép tha tội... Nhưng linh mục được làm những điều cao trọng đó chỉ vì linh mục được ủy nhiệm bởi Giáo Hội của Chúa Giê-su Ky-tô. Giả như có người tài ba và đạo đức thánh thiện hơn linh mục mà không được Giáo Hội ủy thác thì cũng không được ai gọi là cha, chẳng ai đi dự lễ do người đó cử hành, chẳng ai xưng tội với người đó. Hơn nữa Giáo Hội không riêng của Đức Giáo Hoàng, không riêng của các Đức Giám muc, các linh mục và các tu sĩ... Mà Giáo Hội là tất cả chúng ta, là mọi người thuộc Giáo Hội. Và các linh mục, tu sĩ được gọi là "cha", là "dì" là "thầy" và được cử hành những nghi lễ cao cả đó, thì phải tuân hành những điều kiện khó khăn nghiêm ngặt của Giáo Hội, coi như những vị đó là hy lễ của Giáo Hội, chẳng hạn không được làm giầu, không được lấy vợ, lấy chồng, sinh con... Là những thứ thiên hạ thèm khát nhất, nhưng linh mục được tự do lựa chọn và người Công Giáo tự nguyện gọi linh mục là cha, và khao khát chịu các phép bí tích, không ai phiền hà trách móc Giáo Hội.
           Nhưng hãy xem Kinh Thánh nói gì : Mt 23, 1-12: Bấy giờ Chúa Giê-su nói với đám đông và các môn đệ Người rằng: "Các kinh sư và những người Pha-ri-siêu ngồi trên tòa ông Mô-sê mà giảng dạy. Vậy những gì họ nói thì anh em hãy làm, hãy giữ, nhưng đừng theo hành động của họ mà làm, vì họ nói mà không làm. Họ bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ lại không buồn động ngón tay vào. Họ làm mọi việc cốt để thiên hạ thấy. Quả thật, họ đeo những hộp kinh thật lớn, may những tua áo thật dài. Họ ưa ngồi cỗ nhất trong đám tiệc, chiếm ghế đầu trong hội trường, ưa được chào hỏi ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là Rabbi. Phần anh em, thì đừng để ai gọi mình là Rabbi vì anh em chỉ có một Thầy, còn tất cả đều là anh em với nhau. Anh em đừng gọi ai dưới đất là cha của anh em, vì anh em chỉ có một Cha, là Cha ở trên trời. Anh em đừng để ai gọi mình là người lãnh đạo, vì anh em chỉ có một vị lãnh đạo là Đức Ky-tô. Trong anh em, người nào làm lớn hơn cả, phải làm người phục vụ anh em. Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên.": 
           Nhìn bao gồm đoạn Phúc Âm này là Chúa Giê-su muốn lấy thí dụ điển hình lối sống các kinh sư và người Pha-ri-siêu để dạy chúng ta phải sống khiêm nhường, đừng phô trương thanh thế, đừng ham hố danh vọng kẻo thiệt phần công phúc thuộc Nước Trời. Còn "Anh em đừng gọi ai dưới đất là cha của anh em, vì anh em chỉ có một Cha là Cha trên trời.": Câu này nếu hiểu cách đơn giản thì quả thật là ngang tai, chẳng lẽ Chúa lại dạy điều vô ơn với vị sinh thành ra chúng ta sao? 
         Nhưng Thiên Chúa phú bẩm cho giòng dõi, cha mẹ để sinh ra phần xác chúng ta, nên chúng ta có tới ba đến bốn cha: nào cha đẻ, cha chồng, cha vợ, cha nuôi... Nhưng hãy nhớ St 2, 27: "ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, THỔI SINH KHÍ vào lỗ mũi, và con người trở nên một SINH VẬT." là chính Thiên Chúa ĐẺ RA LINH HỒN BẤT TỬ của chúng ta bằng THỊT MÁU BẤT TỪ của Người. ("Thổi" là SINH RA, "Sinh Khí" là  THỊT MÁU BẤT TỬ của Thiên Chúa, "Sinh vật" là CON NGƯỜI CÓ LINH HÔN.) Vậy "Đừng gọi ai ở dưới đất là cha" là Chúa xác định và nhắc nhớ Chúng ta rằng: cả nhân loại đều cùng được sinh bởi một Cha là Cha trên trời và tất cả mọi người đều là anh em ruột của nhau.
          Thứ hai, Mt 10, 40: "Ai đón tiếp các con là đón tiếp Thầy, ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy.": Linh mục giơ tay ban phép lành, ban phép tha tội, thì không phải phép lành đó, phép tha tội đó là của riêng vị linh mục, nhưng linh mục được ủy nhiệm của Giáo Hội, Giáo Hội là của Chúa Ky-tô, Chúa Ky-tô thay mặt Đức Chúa Cha, cho nên ai cũng biết phép lành, phép tha tội đó chính là của Thiên Chúa, chúng ta gọi linh mục là "cha" chỉ vì cha thay mặt Chúa mà ban cho chúng ta các phép bí tích, thay mặt Giáo Hội, thay mặt Chúa mà chăm sóc linh hồn chúng ta.
          Thứ ba, Mt 10, 41-42: "Ai đón tiếp một ngôn sứ, vì người ấy là ngôn sứ, thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc ngôn sứ; ai đón tiếp một người công chính, vì người ấy là người công chính, thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc công chính. Và ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ là một chén nước lã thôi, vì kẻ ấy là môn đệ Thầy, thì Thầy bảo thật các con, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu.": Linh mục được Chúa chọn để thay mặt Chúa, linh mục là môn đệ Chúa vì linh mục từ bỏ mọi sự đời trân quý mà theo Chúa, chỉ cần cho linh mục uống chỉ một chén nước lã thôi, đã được Chúa thưởng công lớn rồi, vậy đón tiếp linh mục như cách gọi linh mục của Chúa là "cha" thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho môn đệ Chúa, cho nên người Công Giáo không ai phàn nàn kêu trách việc gọi linh mục là "cha", mà còn hân hoan đón nhận phép lành, phép tha tội cùng các phép bí tích do linh mục thay mặt Chúa ban cho chúng ta.  
          21- KHÔNG CÓ SỨC CHỊU NỔI.
          Ga 16, 12-15: "Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em. Nhưng bây giờ anh em KHÔNG CÓ SỨC CHỊU NỔI. Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn. Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại, và loan báo cho anh em biết những điều gì sẽ xảy đến. Người sẽ tôn vinh Thầy, vì Người sẽ lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em. Mọi sự Chúa Cha có đều là của Thầy. Vì thế, Thầy đã nói: Người lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em."
          Đoạn Phúc Âm trên đã bàn trong mục "Kinh Thánh khoa học", ở đây chỉ nói về câu: " KHÔNG CÓ SỨC CHỊU NỔI": Câu này không ai đề cập đến cũng chẳng ai thắc mắc vì chúng ta cứ ngỡ nó dễ quá, là Chúa nói các tông đồ không nhớ nổi, hoặc không thể hiểu nổi. 
          Nhưng đây là câu vô cùng quan trọng, căn bản trong Giáo Huấn Chúa Ky-tô: Như chúng ta biết về Định Luật "Nhận bao nhiêu thì hãy cho đi bấy nhiêu" ("Được cho nhiều thì sẽ bị đòi nhiều") thì sự nhận Giáo Huấn và những sự tiết lộ của Chúa Giê-su Ky-tô là sự NHẬN trực tiếp từ Thiên Chúa, nên sự NHẬN đó vô cùng lớn lao mà nhân loại phải TRẢ cho Thiên Chúa cách tương xứng. Cho nên nếu giả như Lời Chúa Giê-su được trình bày tuyệt đối rõ ràng để người ta nhận biết Chúa Giê-su là Chúa thật, và những tiết lộ của Chúa Giê-su cho người ta nhận biết Nước Trời cách khoa học, không cần phải có đức tin, thì thế gian này không ai được cứu độ dù chúng ta sống rất đạo hạnh thánh thiện, bởi vì : "ĐƯỢC CHO NHIỀU THÌ SẼ BỊ ĐÒI NHIỀU". Cho nên vì thương chúng ta, vì lợi ích của chúng ta, Chúa Giê-su chỉ rao giảng những điều cần thiết, không thừa thãi phí phạm, chỉ vừa đủ để nhân loại được cứu độ, như Chúa Giê-su không làm những phép lạ quá vĩ đại, quá tỏ tường, và khi rao giảng những điều rất quan trọng cần thiết, Chúa thường dùng dụ ngôn để che giấu, hoặc nói nơi này một ý, nơi khác một ý. Vì nếu Chúa nói trọn vẹn mọi ý, rồi giảng giải thật rõ ra cho các môn đệ ghi chép tỉ mỉ, cũng không khó , nhưng chúng ta phải TRẢ ĐẮT lắm. Nhưng khi Chúa Giê-su đã về trời, thì Đức Chúa Thánh Thần thực hiện Định Luật "Có mới được cho" là chờ chúng ta CÓ, Người mới CHO là thêm sức, soi dẫn các tông đồ rao giảng Lời Chúa, hướng dẫn các thánh sử ghi chép lại Lời Chúa, chỉ dạy Giáo Hội chọn lựa bốn sách Tin Mừng trong rất nhiều cuốn sách viết về Lời Chúa, dạy dỗ các đấng bậc trong Giáo Hội biết đường hướng giảng dạy Giáo Huấn của Chúa và nhất là chỉ bảo từng người tùy công phúc để họ am hiểu và thực hành Lời Chúa: "Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn. Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại, và loan báo cho anh em biết tất cả những gì sẽ xảy đến."
          22- NƯỚC TRỜI PHẢI ĐƯƠNG ĐẦU VỚI SỨC MẠNH.
         Mt 11, 12: "Từ thời ông Gio-an Tẩy giả cho đến bây giờ, Nước Trời phải đương đầu với sức mạnh, ai mạnh sức thì chiếm được.": Tại sao lại từ thời ông Gio-an Tẩy Giả ? Trước đó Nước Trời không đương đầu với sức mạnh sao ?  Và trước đó kẻ không mạnh sức cũng có thể chiếm được sao ?  
         Nhưng câu này có ý nghĩa liên quan tương ứng với câu: "Nhưng bây giờ các con không chịu nổi." Có nghĩa rằng từ thời ông Gio-an Tẩy Giả, Chúa Giê-su đã bắt đầu Công Nghiệp Cứu Chuộc thì Nước Trời dành sẵn cho nhân loại, nhưng chúng ta phải TRẢ cho Thiên Chúa phần mà chúng ta NHẬN từ Công Nghiêp Cứu Chuộc đó theo Định Luật "Nhận nhưng không thì hãy cho đi nhưng không" ("Được cho nhiều thì sẽ bị đòi nhiều"), cho nên Nước Trời phải được chiếm đoạt và ai mạnh sức mới chiếm được. Bởi vậy dù Nước Trời đã dọn sẵn nhưng nếu ai không cậy nhờ Công Nghiệp Chúa Giê-su Ky-tô, ai không nương tựa vào sức mạnh của Người thì không thể chiếm đoạt được Nước Trời.
          23- TẠI SAO KHÔNG TIN VÀO DANH CHÚA KY-TÔ LẠI BỊ LÊN ÁN ?
         Ga 3, 16-18: "Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con Một Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người mà được cứu độ. Ai tin vào Con của Người , thì không bị lên án; NHƯNG KẺ KHÔNG TIN, THÌ ĐÃ BỊ LÊN ÁN RỒI, VÌ ĐÃ KHÔNG TIN VÀO DANH CỦA CON MỘT THIÊN CHÚA.":
                Việc này có bất công không ? Ai không tin thì không được hưởng nhờ Công Nghiệp của Chúa thôi, chứ sao lại lên án họ ?
          Cũng như ba đoạn Phúc Âm trên (Ga 16, 12-15, Mt 11, 12 và Ga 3, 16-18): Vì Đinh Luật "NHẬN BAO NHIÊU THÌ PHẢI CHO ĐI BẤY NHIÊU" ("Được cho nhiều thì sẽ bị đòi nhiều") thì việc Con Một Thiên Chúa xuống thế làm người, là sự CHO vô cùng lớn lao mà Chúa đòi buộc mỗi người chúng ta phải TRẢ LẠI cho Người. Mà chính sự "TIN VÀO DANH CỦA CON MỘT THIÊN CHÚA" là sự đền đáp xứng đáng, còn ai không tin vào DANH CON MỘT THIÊN CHÚA là không TRẢ cho Thiên Chúa sự NHẬN lớn lao của CÔNG NGHIỆP CỨU CHUỘC thì bị lên án.
          24- SAO KẺ NHỎ NHẤT TRONG NƯỚC TRỜI LẠI CAO TRỌNG HƠN THÁNH GIO-AN ?
          Ga 11, 11: "Tôi nói thật với anh em: trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn Gio-an Tẩy Giả. Tuy nhiên, kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông.": Thánh Gio-an là đấng đi trước dọn đường cho Chúa Giê-su Ky-tô, chính ngài đã làm phép rửa cho Chúa và ngài còn chịu chết đổ máu vì bênh vực lẽ công chính, cho nên ngài là một vị thánh rất cao trọng vĩ đại, cớ sao kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời lại cao trọng hơn ngài được ? Hoặc là thánh Gio-an Tông Đồ nghe lầm chăng?
          Nhưng ở đây Chúa Giê-su tiết lộ cho chúng ta sự quý giá cao trọng của những kẻ được chọn làm con cái Giáo Hội, vì Giáo Hội là của Chúa Giê-su Ky-tô, Giáo Hội do chính Chúa Giê-su thành lập, Giáo Hội là Nhiệm Thể Chúa Ky-tô, Giáo Hội là Nước Trời trần thế, và Giáo Hội là của tất cả mọi tín hữu chúng ta. Khi gia nhập Giáo Hội, chúng ta được rửa tội nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần, thì Thánh Thể Thiên Chúa Ba Ngôi liền ngự trị vào linh hồn thể xác chúng ta, linh hồn và thể xác chúng ta được hòa nhập vào Thánh Thể Thiên Chúa Ba Ngôi, linh hồn bất tử của chúng ta được nén ướp nuôi dưỡng bằng Thịt Máu bất tử của Thánh Thể Thiên Chúa Ba Ngôi và được thánh hóa, dậy dỗ, khuyên nhủ, ủi an, che chở... Vậy thử hỏi có ai trên trần gian này cao trọng hơn một kẻ nhỏ bé nhất trong Giáo Hội.
          25-KHÔNG AI NHÂN LÀNH.
        Mc 10, 17-18: Chúa Giê-su vừa lên đường, thì có một người chạy đến, quỳ xuống trước mặt Người mà hỏi: "Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp ?" Chúa Giê-su đáp: "Sao anh nói tôi là nhân lành? KHÔNG AI NHÂN LÀNH CẢ, TRỪ MỘT MÌNH THIÊN CHÚA.":
        Chúa nói câu này đụng chạm nhiều người quá ! Trên thế gian này rất nhiều người được tôn là nhân lành, và cũng rất nhiều người tự phong mình là nhân lành, Chúa thừa biết mà tại sao Người lại nói vậy?
        Thường chúng ta tưởng ý Chúa là "nhân lành" của con người chẳng thấm gì, chẳng thể so sánh chút nào với sự nhân lành của Thiên Chúa, hoặc Chúa nói Thiên Chúa nhân lành tuyệt đối, nên không ai trên cõi đời này được kể là nhân lành cả.
         Nhưng vì Định Luật "Có mới được cho", chúng ta phải có Chúa mới cho. Và nếu ai đó có sự tốt lành một thì chính Chúa sẽ hướng dẫn, dạy dỗ, ban ơn để chúng ta trở nên lành thiện gấp ba mươi, gấp sáu mươi, gấp trăm lần và có thể gấp ngàn gấp vạn lần, như ý nghĩa của dụ ngôn "Gieo giống", cho nên "Không ai nhân lành cả, trừ một mình Thiên Chúa." có nghĩa là những điều tốt lành chúng ta có được đều là ƠN CHÚA, BỞI CHÚA Chúa mà ra chứ riêng chúng ta thì không thể có nhân lành.
          26- KHÔNG ĐƯỢC XÉT ĐOÁN ?
          Lc 7, 37: " Các con đừng xét đoán, thì các con sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán. Các con đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án. Các con hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha.": nhiều người cho Chúa nói vậy là việc xét đoán và lên án chỉ dành cho Thiên Chúa. Có những người nói: chỉ trừ những người chuyên môn về luật pháp như quan tòa chẳng hạn thì mới có thể được xét đoán hoặc lên án người ta mà thôi.
            Không phải như vậy đâu ! Chúng ta đã hiểu quá sai lời Chúa ! Không xét đoán rồi chúng ta cứ treo cái lỗi của người ta lơ lửng như vậy suốt đời sao ? Có phải mỗi ngày trong cuộc đời của mỗi người chúng ta, có tới hàng trăm việc cần phải xét đoán không? Nào việc thuộc của vợ chồng, con cái, cha mẹ, anh em, bạn bè, lối xóm và nhất là của chính chúng ta... Nhưng ý của Chúa là chúng ta phải xét đoán mọi sự ít ra là thật công bằng và hơn thế là phải cảm thông, độ lượng, khoan dung, tha thứ, như ý của câu sau cùng: "Các con hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha.": đây mới là ý Chúa muốn nói. Còn "kết án" là chúng ta xét đoán cách chủ quan, ích kỷ hoặc tự ngự trên ghế "quan tòa công chính, cao trọng, trong sạch, thánh thiện." Để xét đoán người ta cách cay độc. Cho nên không bao giờ được nói xấu kẻ khác vì nói xấu không những là một sự xét đoán mà còn là sự kết án.
          27- CÁI XÀ MÀ CÓ THỂ Ở TRONG MẮT ?
          Mt 7, 4-5: "Sao ngươi lại nói với người anh em: "Hãy để tôi lấy cái rác ra khỏi mắt bạn", trong khi có cả một cái xà trong con mắt ngươi ? Hỡi kẻ đạo đức giả! Lấy cái xà ra khỏi mắt ngươi trước đã, rồi ngươi sẽ thấy rõ, để lấy cái rác ra khỏi mắt người anh em.": Chính Chúa cũng bị người ta bắt lỗi trong câu này là sai sự thật, vì làm sao cái xà có thể vào trong mắt được?
          Vâng, nếu chúng ta tìm hiểu Lời Chúa cách quá thô thiển thì thật là hết cách. Nhưng chúng ta thấy rất rõ trong những sự việc xảy ra hằng ngày, nhiều việc tương tự : "Thấy cái rác trong mắt người anh em mà cái xà trong con mắt mình thì lại không để ý tới." có nghĩa rằng trong khi mình nhiều lầm lỗi, sai trái thậm tệ thì không nhận ra mà lại bới lông tìm vết, xét đoán, lên án người khác những thiếu sót nhỏ nhoi đáng cảm thông tha thứ. Cho nên cách nói của Chúa Giê-su vô cùng thâm thúy tế nhị.
          28- CON CHÁU TỔ PHỤ ABRAHAM. 
          Lc 19, 8-10: Ông Da Kêu đứng đó thưa với Chúa Giê-su rằng: "Thưa Ngài, đây phân nửa gia tài của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi có chiếm đoạt của ai cái gì, tôi sẽ đền gấp bốn." Chúa Giê su nói với ông ta rằng: "Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này CŨNG LÀ CON CHÁU TỔ PHỤ ABRAHAM. Vì Con Người đến để cứu những gì đã mất.":
          Nếu chúng ta hiểu "Con cháu tổ phụ Abraham" là những người sinh bởi Abraham và con cháu của họ, là chúng ta hiểu sai Kinh Thánh quá xa. Chính đoạn Kinh Thánh này giúp chúng ta hiểu rõ nghĩa "Con cháu Abraham" : Hỏi có ai đi theo Chúa mà chia ngay một nửa gia tài cho người nghèo, và đền trả cho người ta gấp bốn lần thiệt hại không? Có nghĩa rằng người thu thuế này dù đứng trong hàng ngũ những người tham lam gian dối, nhưng lại có một cuộc sống tương đối tốt lành, nên đã được Chúa Giê-su ban một đặc ân vô cùng cao trọng để dứt bỏ cuộc sống cũ mà trở về con đường hoàn toàn công chính thánh thiện, cho nên Chúa Giê-su mới nói: "Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này." nghĩa là nhờ sự tốt lành của ông ta cộng với công nghiệp cao cả của Chúa Giê-su mà gia đình ông được hưởng nhờ ơn cứu độ. Và "Bởi người này cũng là con cháu Abraham." : Bởi người này đã tìm được con đường ngay chính thánh thiện. Cũng như "Vì Con Người đến để cứu những gì đã mất" là chính Chúa Giê-su cứu chữa, hoán cải ông và gia đình ông để họ được ơn trở lại và được cứu độ.
           Cho nên "Con cháu tổ phụ Abraham" phải hiểu là GIÒNG DÕI CỦA NHỮNG KẺ TÌM CHÚA trong công chính thánh thiện, là  những kẻ theo Chúa Giê-su Ky-tô, là những kẻ được ơn cứu độ.
          29-SỰ THẬT LÀ GÌ ?
           -Ga 18, 37: Ông Phi-la-tô liền hỏi: "Vậy ông là vua sao?" Chúa Giê-su đáp: "Chính ngài nói tôi là vua. Tôi sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này: làm chứng cho SỰ THẬT. Ai đứng về SỰ THẬT thì nghe tiếng tôi." Ông Phi-la-tô nói với Người: "SỰ THẬT là gì?"
             - Nghĩa thứ nhất của SỰ THẬT là sự tiết lộ của Chúa Giê-su trong Giáo Huấn của Người là LỜI CHÚA. LỜI CHÚA tồn tại đời đời là SỰ THẬT: "Trời đất sẽ qua đi nhưng LỜI THẦY nói chẳng qua đâu."
               - Nghĩa thứ hai: "Ai thuộc về SỰ THẬT thì nghe tiếng tôi." TIẾNG TÔI là LỜI CHÚA, vậy "Ai thuộc về SỰ THẬT" là: Ga 14, 23: "Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy, Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, Cha Thầy và Thầy sẽ Ở LẠI TRONG NGƯỜI ẤY." Có nghĩa rằng ai được Thiên Chúa ngự trong lòng (Thịt Máu Chúa đan kết hồn xác) thì mới được soi dẫn để nghe tiếng Chúa, hiểu Lời Chúa. Vậy SỰ THẬT  chính là THÁNH THỂ THIÊN CHÚA, là Thịt Máu Chúa cách thực thể, khoa học. Và THÁNH THỂ THIÊN CHÚA và LỜI CHÚA hằng sống đời đời, cả hai là SỰ THẬT. Vì mọi sự đều thay đổi, đều qua đi, duy có SỰ THẬT thì tồn tại muôn đời.
          30- THẦN KHÍ và SỰ THẬT.
           Ga 4, 19-24: Người phụ nữ nói với Người: "Thưa ông, tôi thấy ông thật là một ngôn sứ. 20. Cha ông chúng tôi đã thờ phượng Thiên Chúa trên núi này, còn các ông lại bảo Giê-ru-sa-lem mới chính là nơi phải thờ phượng Thiên Chúa." 21. Chúa Giê-su phán: "Này chị, hãy tin tôi: đã đến giờ các ngươi sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giê-ru-sa-lem. 22. Các ngươi thờ Đấng các ngươi không biết; còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ phát xuất từ dân Do-thái. 23. Nhưng giờ đã đến -và chính là lúc này đây- giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong THẦN KHÍ và SỰ THẬT, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ kính Người như thế. 24-Thiên Chúa là THẦN KHÍ, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong THẦN KHÍ và SỰ THẬT.":
            Người Sa-ma-ri-a thờ Thiên Chúa trên núi, người Do-thái thì lại bảo Giê-ru-sa-lem mới là nơi phải thờ phượng Thiên Chúa. Nhưng Chúa Giê-su phán rằng: đã đến lúc những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong THẦN KHÍ và SỰ THẬT:
              - SỰ THẬT là THÁNH THỂ THIÊN CHÚA bao trùm cả linh hồn và thể xác chúng ta.
               -THẦN KHÍ là Thánh Thể Thiên Chúa bao trùm đan kết toàn thể vũ trụ hữu hình và vô hình.
               Có nghĩa rằng Thiên Chúa muốn chúng ta thờ kính Người trên toàn thể vũ trụ, khắp mọi nơi, ngay trước mặt và tận cõi lòng chúng ta.
          31-ĐƯỜNG, SỰ THẬT, SỰ SỐNG.
          -Ga 14, 6: Chúa Giê-su đáp: "Chính Thầy là ĐƯỜNG, là SỰ THẬT và là SỰ SỐNG. Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy.": Đây là một trong những câu Kinh Thánh tuyệt vời nhất.
           ĐƯỜNG : Là sự hướng dẫn dạy bảo của Thiên Chúa:  Thứ nhất là LỜI CHÚA hằng sống đời đời. Thứ hai : Quyền năng Thiên Chúa bao trùm đan kết chúng ta : THÁNH THỂ THIÊN CHÚA hằng sống đời đời.
             SỰ THẬT: LỜI CHÚA tồn tại muôn đời và THÁNH THỂ CHÚA hằng sống đời đời.
            SỰ SỐNG: Sự hướng dẫn của LỜI CHÚA . Hai là sự nuôi dưỡng hướng dẫn của THỊT MÁU THÁNH THỂ CHÚA hằng sống đời đời.
             Vậy ĐƯỜNG, SỰ THẬT, SỰ SỐNG cả ba cùng một nghĩa là LỜI CHÚA và THÁNH THỂ CHÚA. 
             32- LINH HỒN ĐƯỢC NUÔI DƯỠNG BẰNG SỰ THẬT.
           -Ga 17, 17: "Xin Cha lấy SỰ THẬT mà thánh hiến họ. Lời Cha là SỰ THẬT.": Đây là câu Phúc âm rất ngắn gọn mà tiết lộ điều vô cùng cao trọng lại mang tính khoa học tuyệt vời.
          Trước tiên chúng ta hãy bàn nghĩa của câu: "Lời Cha là SỰ THẬT": Ai cũng hiểu Lời Cha là Lời Chúa Giê-su Ky-tô, vì Người nói theo ý Đức Chúa Cha đã dạy. "Lời Cha là Sự Thật" có ba nghĩa:
            Nghĩa thứ nhất: Lời Chúa Ky-tô không hề sai trái dối trá.
            Nghĩa thứ hai: Lời Chúa Ky-tô là sự TIẾT LỘ trải dài trong Phúc Âm và soi tỏ vào Cựu Ước.
            Nghĩa thứ ba: SỰ THẬT đối nghịch với giả là không thay đổi tan biến và TỒN TẠI ĐỜI ĐỜI. Cho nên chúng ta thấy:   Mt 24, 35: "Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói chẳng qua đâu.", Mc 13, 31: "Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói chẳng qua đâu.", Lc 21, 33: "Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói chẳng qua đâu."
           (Khoảng một trăm năm về trước, không ai dám nghĩ vũ trụ này sẽ qua đi, thế mà hai ngàn năm trước Chúa Giê-su đã tuyên bố thẳng thắn: "Trời đất sẽ qua đi", Kinh Thánh đã soi chiếu cho khoa học !)
             Cho nên "Lời Cha là SỰ THẬT" là Lời Chúa Giê-su Ky-tô tồn tại đời đời, được duy trì thực hiện cả sau khi vũ trụ này tan biến vào vũ trụ siêu vật thể, vì thế được gọi là SỰ THẬT.
             Còn nghĩa của "Xin Cha lấy SỰ THẬT mà thánh hiến họ.": Như đã trình bày trong phần "Thiên Chúa SIÊU VIỆT và NỘI TẠI" thì SỰ THẬT chính là THÁNH THỂ THIÊN CHÚA vì mọi vật trong vũ trụ dù to lớn vững vàng đến đâu cũng đều tan biến thay đổi, duy chỉ có THỊT MÁU THÁNH THỂ THIÊN CHÚA thì không thể thay đổi tan biến mà tồn tại đời đời, cho nên Phúc Âm Chúa Giê-su mới dùng SỰ THẬT để chỉ THỊT MÁU THIÊN CHÚA. Và SỰ THẬT trong đó có LINH HỒN chúng ta cũng sống và tồn tại đời đời. (Con người giống HÌNH ẢNH Thiên Chúa) Vì từ khi thân xác chúng ta còn là phôi thai, thì Thiên Chúa đã nhỏ GIỌT MÁU của Người là "Thổi SINH KHÍ vào lỗ mũi" có nghĩa là Thiên Chúa đã trực tiếp sinh ra chúng ta bằng chính THỊT MÁU của Người và dùng chính THỊT MÁU của Người mà nuôi chúng ta cho được lớn lên.
           Vậy "Xin Cha lấy SỰ THẬT mà thánh hiến họ. Lời Cha là SỰ THẬT." Là Đức Chúa Giê-su cầu xin Đức Chúa Cha thánh hóa chúng ta bằng hai thứ: MÌNH THÁNH CHÚA và LỜI CHÚA. Như vậy câu Kinh Thánh rất ngắn gọn này đã xác định rõ ràng: Thiên Chúa dùng chính Mình Máu thật của Người cùng với Lời Người mà nuôi dưỡng thánh hóa linh hồn chúng ta. 
             Và điều tiết lộ tuyệt vời là: trong vũ trụ chỉ có hai thứ không biến đổi và tồn tại đời đời, đó là THÁNH THỂ CHÚA và LỜI CHÚA, và cả hai được gọi là SỰ THẬT.
   
              

                                                                                                 ( Còn tiếp )
           
           
              





          
           






            
                                                                                                                                                                                   .

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn